Chiến lược phễu sản phẩm tăng tốc kinh doanh (Growhacking In Business Matrix)

Trong quá trình tư vấn cho các SMEs, đồng thời bản thân cũng là một người khởi nghiệp, chuyên gia Đặng Thanh Vân đã phát hiện ra một vấn đề cực kì nghiêm trọng mà rất nhiều doanh nghiệp mắc phải. Đó là: Nhiều doanh nghiệp chỉ có một sản phẩm duy nhất hoặc có nhiều sản phẩm nhưng lại áp dụng chung 1 chiến lược giá, không tạo thành một ma trận. Điều này dẫn đến 1 vấn đề nghiêm trọng là mỗi sản phẩm chỉ bán được 1 lần cho một loại khách nhất định, khách hàng không mua được lần 2 cũng không mua được sản phẩm khác.

Lấy ví dụ, ngay chính bản thân công ty Thanhs trong những năm đầu tiên chỉ có 1 sản phẩm duy nhất là Tư vấn Chiến lược Thương hiệu. Sản phẩm tư vấn lại có giá trị sử dụng rất lâu, từ 3 đến 5 năm. Hệ quả là mặc dù khách hàng rất hài lòng với sản phẩm của Thanhs, đồng hành với Thanhs trong một thời gian dài nhưng không và không thể mua thêm được gì. Do vậy, Thanhs đã phát triển đa dạng các sản phẩm như sách, bộ ấn phẩm online và offline, gói cố vẫn huấn luyện theo giờ, theo buổi hay tư vấn trực tiếp 1vs1 để mở rộng ma trận sản phẩm của mình.

Vấn đề này cũng xuất hiện trong ngành thời trang, đặc biệt là thời trang nữ. Sai lầm của các nhà kinh doanh thời trang nữ là sản xuất ra các sản phẩm có cùng một phong cách, kiểu dáng na ná giống nhau, cùng 1 mục đích sử dụng. Mà khách hàng nữ, thường liên tục thay đổi kiểu dáng, phong cách theo tâm trạng hay thời kì, ít khi mua quá 3 chiếc cùng loại.

Về ma trận sản phẩm, trước tiên hãy bắt đầu cùng sản phẩm phễu. Sản phẩm phễu đơn giản là loại sản phẩm mà khách hàng có thể dùng miễn phí. Đặc biệt nếu phễu là một sản phẩm số thì đầu vào sẽ rất to, thu được nhiều data, dễ làm và ít tốn kém hơn. Tại sao phải có sản phẩm phễu? Đó là vì phễu sẽ chuyển hoá số lượng người tiếp cận được thành người dùng – user. Người dùng là một nguồn tài nguyên có giá trị đối với các thương hiệu vì người dùng là người đã trải nghiệm sản phẩm của bạn, họ đã có điểm chạm rất mạnh với thương hiệu.

Sau phễu, tiếp đến là sản phẩm Tripwire – dòng sản phẩm mà ai cũng có thể mua được. Có câu nói từ người Trung Quốc mà chuyên gia Đặng Thanh Vân rất tâm đắc, đó là:”Chỉ cần bạn bước vào cửa hàng của tôi, bạn nhất định phải bỏ tiền cho tôi, dù là một đồng.”. Điều này thể hiện tư duy thương mại rất tốt và có từ xa xưa của người Tàu. Một điều quan trọng mà các doanh nghiệp nên làm là tập cho khách hàng thói quen chi tiền cho mình, đặc biệt là các doanh nghiệp bán lẻ.

Có điều cần phải lưu ý rằng giá rẻ chỉ là một đặc điểm của sản phẩm Tripwire. Rẻ và phải bán nhanh và bán được nhiều mới là sản phẩm cheapwire. Nên quan sát cả các doanh nghiệp trong ngành của mình xem họ có dòng sản phẩm này không? Đang triển khai như thế nào? Sản phẩm cheapwire đóng vai trò rất quan trọng, khiến khách hàng chi tiền cho mình thường xuyên. Nên nhớ rằng, sản phẩm rẻ mà khách hàng mục tiêu của mình không sẵn sàng mua thì không phải sản phẩm Tripwire.

Bật mí rằng công ty Thanhs hiện đang nghiên cứu và chuẩn bị trình làng 1 sản phẩm Tripwire, chắc chắn rẻ hơn 200k và mọi người đều sẽ thích và đều mua. Cùng chờ đón sản phẩm của Thanhs nhé!

Loại thứ 3 là sản phẩm dòng tiền. Đây là dòng sản phẩm mà khách hàng thường xuyên mua hàng lặp lại. Gọi là sản phẩm dòng tiền vì sản phẩm này sẽ đem lại dòng tiền ổn định và ngày càng mở rộng cho doanh nghiệp. Ví dụ đơn giản là khi bạn bán 1 dự án, bán có thể bán nguyên liệu để thực hiện dự án đó.

Một case mà Thanhs đã tư vấn đó là doanh nghiệp chuyên buôn bán và sản xuất chăn ga gối đệm KONA. Ngay từ những năm 2012, Thanhs đã tư vấn cho KONA không nên tập trung vào sản phẩm đệm nữa. Vì đệm không phải là một sản phẩm sẽ đem lại dòng tiền đều đặn. Hầu hết một chiếc đệm có thể sử dụng từ 10-20 năm mà rất ít phải mua mới. Cho nên, một khi thị trường bão hòa, sản phẩm này khó có thể đạt doanh thu như kỳ vọng. Trong khi đó, sản phẩm ga gối, mặc dù lúc đó chưa có nhu cầu nhiều như bây giờ, lại là một sản phẩm có triển vọng đem lại dòng tiền tốt. Thực tế đã chứng minh khi giờ đây, một hộ gia đình hoặc cá nhân có rất nhiều nhu cầu về chăn ga. Nếu trước đây người ta chỉ dùng 1 2 bộ chăn ga một năm, thì hiện tại, các gia đình có nhu cầu thay đổi thường xuyên theo mùa (mỏng/dày) hoặc theo thẩm mỹ và sở thích, một năm mua 5 bộ chăn ga gối là chuyện bình thường.

Thách thức đặt ra ở đây là doanh nghiệp phải tạo ra hoặc phát hiện được 1 dòng sản phẩm mà mình có thể cung cấp đồng thời sản phẩm đó phải tiêu hao, khách hàng liên tục có nhu cầu tái sử dụng trong thời gian ngắn. Lưu ý rằng sản phẩm dòng tiền không nên đặt mục tiêu lãi cao. Mọi người mua nhiều, dòng tiền liên tục dịch chuyển trong doanh nghiệp mới là điều quan trọng.

Trong ma trận sản phẩm còn có các dòng sản phẩm khác nữa, Thanhs sẽ hé lộ với các bạn trong các bài tiếp theo. Theo dõi website Thanhs.vn để theo dõi và tích lũy những kiến thức bổ ích nhất nhé!

Nguồn: Thanhs.vn

Ngày xưa mình nhân trị lắm nhưng giờ thay đổi rồi!

"Ngày xưa mình cũng thuộc tuýp quản lý tâm lý, mình cũng từng đặt niềm tin vào việc cần phải đối xử nhẹ nhàng chia sẻ với các em nhiều hơn. Mình cũng tận tình rút hết gan ruột ra dạy bảo cho các em, trao kinh nghiệm (mà mình trày da tróc vảy mới có được) ra nói cho các em nghe, rồi nhân sự lớ ngớ hỏng việc cũng cho qua nhẹ nhàng phân tích, cố gắng chia sẻ cho nhân sự hiểu là khởi nghiệp tỉ thứ phải lo (từ dòng tiền bập bõm, đối phó với thuế, bảo hiểm, lo chất lượng dịch vụ, lo giao tiếp với khách hàng, lo educate thị trường...) nên các em làm được phần việc nào thì nghiên cứu cho kỹ, làm cho chuyên nghiệp chỉn chu.

Thế nhưng việc gì đến cũng sẽ đến, các bạn vẫn đòi này đòi kia, rồi các bạn nghỉ, các bạn không kịp deadline, các bạn không tự thúc đẩy bản thân được... Bù lạị, 4 năm làm việc mình cũng có nhiều nhân sự cùng mình vượt qua giai đoạn khó khăn, có những khi chính mình từ bỏ, thì các bạn vẫn ở lại. Giờ này các bạn rất trưởng thành.

Cứ qua mỗi giai đoạn, vực lại được doanh nghiệp, mình càng ý thức được sâu sắc là chủ sở hữu và điều hành doanh nghiệp cần tiết kiệm thời gian và cần giữ năng suất lao động hơn bất cứ điều gì khác. Mình giờ đây thậm chí sẵn sàng không à ới tâm sự với nhân viên, ít động viên, có hướng dẫn công việc cũng rất vừa phải và để đất cho các bạn tự làm tự lớn tự chịu.

Mình không mất thời gian đi gửi những offer letter rất chuyên nghiệp bài bản và cố gắng có đầy đủ những thủ tục hoà nhập cho nhân sự mà bình thường mình làm việc ở công ty lớn họ vẫn cho mình (nào thư chào mừng, party, email hướng dẫn công việc...). Mình không chiều theo tìm hiểu xem nhân sự vướng ở đâu mà để nhân sự tự đi tìm hiểu.

Mình cũng hiểu ra một điều, thân thiết trò chuyện với nhân sự chưa bao giờ là một ý hay đối với các nhà quản lý. Kể cả mục đích công việc của họ cũng không chỉ là thuê nhân sự về để bóc lột. Nói ít làm nhiều, đó thực sự là chân lý nên theo đuổi. Nói nhiều chỉ có tạo điều kiện để hình thành ra văn hoá vòng vo và sáo rỗng.

Khi làm ở FSOFT, trong một phiên trò chuyện với CBNV, nhận được câu hỏi "Anh có nghĩ là overtime là vấn nạn của công ty này và anh có nghĩ là công ty cần phải nghiêm túc tìm cách cải thiện không?", bác CEO mới lên đã nói rất rõ ràng 3 thông điệp:

1. Năng suất lao động của các bạn đang rất thấp. Năng suất lao động nhân sự IT Việt Nam thua các bạn Sing 10 lần. Nhân sự các ngành khác thì thôi khỏi đề cập.
2. Nhưng dù các bạn hay chúng tôi, công ty này muốn sánh ngang với bất cứ công ty lớn nào trên thế giới. Đã đi chậm hơn thì làm cách nào để sánh ngang?
3. Nếu muốn tiến lên, overtime là đương nhiên. Đừng hy vọng có sự thay đổi nào nếu tự thân bạn không thay đổi.

Đúng vậy, tất cả chúng ta đều đang đi chậm hơn, với phương pháp tệ hơn, cách tư duy và tầm nhìn hạn chế hơn, sự hỗ trợ và kết nối nguồn lực kém hơn tất thảy những đất nước khác nơi mà đang chuyển mình mạnh mẽ dưới tác động của công nghệ. Chúng ta làm ẩu, khôn lỏi, và luôn tìm cách đối phó. Chúng ta sống và làm việc không minh bạch, cũng không được hưởng một sự đối đãi minh bạch trong mọi hoàn cảnh. Chúng ta hài lòng, hoặc tặc lưỡi trôi theo rất nhiều dốc trượt sai trái. Chúng ta không "khô máu", không giống như người Nhật "cố gắng chuyên nghiệp thực sự trong mọi việc" hay luôn nhận trách nhiệm lớn hơn về đôi vai mình. Chúng ta lười biếng và không đủ cố gắng liên tục.

Nhưng từ trẻ đến già, từ junior đến manager đều không ngừng đòi hỏi, đặc biệt, là những quyền lợi trước mắt.

Nhân sự trẻ có thể nghỉ vì bất cứ lý do gì.

Nhân sự trẻ có thể không hài lòng với ti tỉ thứ. Tin mình đi, để nói ra những thứ bạn không hài lòng với công việc của mình thì có thể nói và viết hàng trang giấy; nhưng để mà nói ra các đề xuất, phương pháp khoa học và thuyết phục được các cấp quản lý thay đổi thì chả được mấy đâu.

Quay lại câu chuyện của bác CEO FSOFT, mình hoàn toàn đồng ý là nhân sự nào mà lao động chăm chỉ và có năng suất, có phương pháp, biết cách cải tiến và biết ứng dụng các công cụ để làm công việc dễ dàng hơn, họ sẽ chẳng bao giờ đăng đàn hỏi vì sao phải OT. Họ cũng sẽ vui niềm vui cải tiến, và họ nhận thức được khi làm việc hết sức, đời họ sẽ gặt hái được những giá trị gì bên cạnh đồng tiền.

Đối với nhân sự junior ở Việt Nam, mình chắc chắn các điều sau đây:

1. Thế giới quan của các bạn còn rất là hẹp. Ngay cả với bản thân mình và nhiều anh chị ở những vị trí người đời mơ ước mà mình biết, ai cũng nhấn mạnh việc phải bình tĩnh quan sát, không ngừng quan sát để mở rộng thế giới quan. Biết thế giới rồi mới biết bản thân mình đã và đang ở đâu. Khi nào thì mình nên mở lời ra nói, và nói thì nói cái gì, nói để làm gì.

2. Hiểu biết và kỹ năng công nghệ của các bạn còn rất hạn chế. Thế giới đã tiến xa hơn rất nhiều với những kỹ năng đánh máy văn bản và attach file vào email các bạn thân mến. Nên nhớ bạn bè thế giới không làm việc qua các công cụ chat như Zalo hay Messenger. Yêu công nghệ, rành công nghệ hay là tụt hậu nhanh chóng? Đó là lựa chọn của bạn.

3. Tốc độ xử lý công việc của các bạn cần phải cải thiện. Phấn đấu một ngày làm được 10 task phức tạp và 10-15 task đơn giản, làm quần quật trong 3 năm để rút kinh nghiệm và cải thiện, thì bạn được nâng hạng lên junior. Bao giờ được giao việc quản lý một nhóm việc mà chủ động điều phối và xử lý được hết (biết khi nào thì trao quyền cho junior và khi nào phải hỏi ý kiến quản lý, biết chịu trách nhiệm với những công việc trong phạm vi) thì thăng hạng senior, còn đâu ti tỉ thứ phải học.

4. Các bạn chưa hỏi câu hỏi Why/ How thay vì What, Where hoặc When. Khi nào ngộ được và hỏi liên tục thì các bạn mới trưởng thành nhanh chóng được.

Cuối cùng, các bạn vẫn còn quá tốn thời gian cho những việc chả đem lại ích lợi gì cho sự trưởng thành của bản thân."

Blogger Bạch Dương

Lời bình: Hiệu ứng tâm lý trong phần đầu là hiệu ứng viên kẹo. Ngoài ra có khả năng công ty còn vướng hiệu ứng cửa sổ vỡ. Anh mà không có 4 năm nhân trị thì giờ chưa chắc có cơ hội thay đổi. Vì 4 năm nhân trị đó giúp công ty có người. Từ đó, tái tạo hệ thống. Chứ cứ pháp trị thì làm gì có người.

Vốn – quy trình gọi vốn, chia cổ phần khi khởi nghiệp theo góc nhìn cực dễ hiểu!

Đây là bài viết dành cho bạn nào thích tìm hiểu về đầu tư, khởi nghiệp và muốn tìm hiểu về vốn – quy trình gọi vốn, chia cổ phần khi khởi nghiệp.

Các nhà đầu tư thường nói các vòng gọi vốn của một Startup, vậy từng vòng gọi vốn là như thế nào và các con số cổ phần sẽ thay đổi ra sao khi có thêm các nhà đầu tư tham gia vào một doanh nghiệp được Cổ phần hóa.

Khái niệm đưa công ty lên sàn (IPO) là gì, tất cả sẽ được diễn tả một khách rất sơ lược trong bài viết sau đây:

Khởi nghiệp. Vấn đề đầu tiên luôn luôn là TIỀN Đ U?

Gọi vốn như thế nào? Cách phân chia cổ phần sau mỗi vòng gọi vốn ra sao? Suy nghĩ, mục đích của nhà đầu như là gì?

Gọi vốn đầu tư – kêu gọi người khác bỏ tiền ra cho mình làm, hay tôi nói thẳng toẹt ra là bạn đi bán ý tưởng, bán dự án kinh doanh của mình. Nói thế cho nó vuông. Tôi sẽ kể cho bạn một câu chuyện, hy vọng, sau khi đọc xong bạn sẽ hình dung và hiểu được phần nào về gọi vốn và quy trình gọi vốn.

Có một điều bạn luôn PHẢI NHỚ: Nhà đầu tư là nhà đầu tư, họ không phải là nhà từ thiện. Điều họ quan tâm khi đầu tư là: Trong vụ này mình có thể kiếm được bao nhiêu. Họ đầu tư đầu tiên là vì họ chứ không phải vì bạn hay dự án của bạn!

Tiếp theo câu chuyện A Phủ khởi nghiệp

A Phủ có một ý tưởng, một dự án, một kế hoạch kinh doanh rất khả thi là: Săn, nuôi l.ợ..n rừng giống, phát triển quy mô đàn l.ợ..n xây dựng thương hiệu và b.á.n thịt l.ợ..n rừng sạch. Mọi thứ anh đã lên kế hoạch tỉ mỉ triển khai là chắc thắng(tất nhiên đó là theo suy nghĩ của cá nhân anh ta).

Ngặt một nỗi, anh không có tiền vốn. Và anh bắt đầu đi gọi vốn đầu tư để triển khai ý tưởng to lớn của mình. À mà thôi, cứ gọi là anh đi bán ý tưởng kinh doanh của mình.

1. Giai đoạn 1

Trước khi đi bán ý tưởng kinh doanh của mình, A Phủ cần định giá được giá trị của nó. Định giá như thế nào để thuận mua – vừa bán với người mua(nhà đầu tư). Cao quá sẽ không ai mua cổ phần cả. Giá trị định giá chỉ có hiệu lực khi có người nào đó đồng ý mua cổ phần.

Ví dụ: Anh định giá cho ý tưởng của mình là 100 triệu đồng. Anh sẽ đi bán 20% cổ phần lấy 20 triệu đồng từ nhà đầu tư. Giả sử nhà đầu tư X đồng ý đặt niềm tin vào A Phủ và đồng ý bỏ 20 triệu đồng ra mua 20% cổ phần dự án.

(Rất hiếm khi được nhà đầu tư mua cổ phần ở giai đoạn này. Nếu muốn biết cách thuyết phục hãy kiên nhẫn đến cuối bài.)Lúc này, số lượng cổ phần của A Phủ còn lại là 80%.

Công việc của anh sau khi nhận được vốn đầu tư là phải dùng số tiền đầu tư đó, phát triển dự án của mình để có mức định giá cao hơn ở những vòng gọi vốn tiếp theo.

Cụ thể là: khi nhận được 20 triệu đồng, A Phủ mua b.ẫ.y, s.ă.n l.ợ.n và làm chuồng để nuôi l.ợ.n. Sau khi anh săn được những chú lợn giống, xây xong chuồng trại thì lại hết tiền. Anh tiếp tục đi gọi vốn đầu tư để mua thức ăn chăn nuôi, chi trả tiền c.h.ữ.a b.ệ.n.h, để phát triển tiếp dự án của mình.

2. Giai đoạn 2

Vẫn giống như giai đoạn 1. A Phủ và nhà đầu tư X tiếp tục định giá lại dự án này. Với các kết quả mới, tham số mới, mọi thứ bắt đầu cụ thể, nhìn rõ hình hài của dự án hơn với: B.ẫ.y, chuồng trại và những con l.ợ..n giống.

Giả sử 2 người định giá giá trị dự án bây giờ là 200 triệu (Nhưng vẫn phải đảm bảo thuận mua vừa bán với các nhà đầu tư sau). Số tiền cổ phần của dự án vẫn giữ nguyên: A Phủ: 80% và nhà đầu tư X: 20% nhưng giá trị cổ phần đã tăng lên gấp đôi. Giá trị 20% cổ phần của X đã tăng lên 40 triệu đồng.

A Phủ tiếp tục gọi vốn ở giai đoạn 2:

Giả sử có một nhà đầu tư Y nhìn thấy tiềm năng của dự án liền bỏ thêm 20 triệu đồng để đầu tư dự án. Và giá trị định giá cổ phần tại thời điểm này là 200 triệu + 20 triệu của nhà đầu tư Y là 220 triệu.

Tỉ lệ cổ phần được chia lại như sau:

A Phủ: (160/220)x100 = 72.727%
Nhà đầu tư X: (40/220)x100 = 18.181%
Nhà đầu tư Y: (20/220)x100 = 9.09%

Ngoài ra, ở giai đoạn này, nhà đầu tư X hoặc A Phủ đều có thể b.á.n một phần cổ phần của mình trong dự án để lấy tiền mặt. Nhà đầu tư X có thể b.á.n 1 nửa cổ phần dự trong dự án để bảo toàn vốn của mình.

Hoặc ông ta có thể bán hết cổ phần, coi như kết thúc 1 thương vụ và kiếm được một khoản lợi nhuận 100%.

Sau khi nhận được tiền từ nhà đầu tư Y, A Phủ tiếp tục phát triển dự án với sứ mệnh tăng giá trị định giá của nó lên. Anh nuôi lợn, chăm sóc để gia tăng quy mô và số lượng đàn l.ợ.n. Sau khi tiêu hết số tiền của nhà đầu tư Y. A Phủ có thêm một đàn l.ợ.n con vừa sinh sản. A Phủ tiếp tục gọi vốn vòng tiếp theo.

3. Giai đoạn 3

Cả 3 người lại tiếp tục định giá lại giá trị của dự án, chuẩn bị cho vòng gọi vốn tiếp theo. Giả sử, cả 3 người thống nhất giá trị định giá cho dự án này là 300 triệu. Số lượng cổ phần vẫn như giai đoạn 2, nhưng giá trị cổ phần tăng lên, như sau:

A Phủ: 160 triệu -> 218.18 triệu
Nhà đầu tư X: 40 triệu -> 54. 54 triệu
Nhà đầu tư Y: 20 triệu -> 27.28 triệu

A Phủ lại tiếp tục gọi vốn giai đoạn 3. Và anh thuyết phục được nhà đầu tư Z đầu tư vào dự án 50 triệu đồng. Tổng giá trị dự án bây giờ là: 300 triệu + 50 triệu = 350 triệu đồng. Và tỉ lệ cổ phần được chia lại như sau:

A Phủ: (218.18/350)x 100 = 62.337%
Nhà đầu tư X: (54.54/350)X 100 = 15.583%
Nhà đầu tư Y: (27.28/350)x 100 = 7.794%
Nhà đầu tư Z: (50/350)x 100 = 14.286%

Lúc này, với 20 triệu đồng ban đầu, nhà đầu tư X đã có khối tài sản giá trị 54.54 triệu. Để bảo toàn vốn đầu tư ban đầu hoặc đơn giản để lấy tiền về sử dụng vào mục đích riêng, ông b.á.n 5.714% giá trị cổ phần cho 1 nhà đầu tư khác là X1 thu về 20 triệu đồng ban đầu.

Đây không phải là vòng gọi vốn nên sẽ không định giá lại giá trị dự án mà chỉ là nhà đầu tư X muốn bán một phần cổ phần của ông ta tại giá trị định giá của dự án là 350 triệu đồng.

Và nhà đầu tư Y, với 20 triệu đồng ban đầu đã tăng lên 27,28 triệu đồng, khi đó ông Y quyết định ăn non, kết thúc thương vụ nên sẽ bán tất cổ phần của ông ta lại cho ông Y1 và kết thúc thương vụ đầu tư này với số tiền lãi là 7.28 triệu đồng.

Và tỷ lệ cổ phần lúc này của ông X giảm xuống còn, ông Y1 sẽ thay thế ông Y trong danh sách các cổ đông. Và có thêm nhà đầu tư X1 trong danh sách cổ đông. Cụ thể như sau:

A Phủ: 62.337%
Nhà đầu tư X: 15.583% – 5.714% = 9.869%
Nhà đầu tư Y: 0%(loại ra khỏi danh sách cổ đông)
Nhà đầu tư Z: 14.286%
Nhà đầu tư X1: 5.714%
Nhà đầu tư Y1: 7.794%

Tiếp tục phát triển dự án, đàn l.ợ..n con đầu tiên của A Phủ nay đã có thể xuất chuồng, có thể bắt đầu có doanh thu nhưng số tiền của nhà đầu tư Z đã bị tiêu hết. Vậy nên họ lại tiếp tục định giá lại dự án và gọi vốn đầu tư thêm một lần nữa.

4. Giai đoạn 4

Lúc này, dự án đã khả quan hơn, tươi sáng hơn có thể có doanh thu luôn và khả năng phát triển rất tốt, nên các nhà đầu tư mạnh dạn định giá cho dự án này ở mức 500 triệu đồng.

Khối tài sản của các cổ đông tiếp tục tăng lên:
A Phủ: 62.337% – tương đương: 311,685 triệu đồng
Nhà đầu tư X: 9.869%- tương đương: 49.345 triệu đồng
Nhà đầu tư Z: 14.286% – tương đương: 71.43 triệu đồng
Nhà đầu tư X1: 5.714% – tương đương: 28,57 triệu đồng
Nhà đầu tư Y1: 7.794% – tương đương: 38.97 triệu đồng

Lúc này, nhà đầu tư T, đã theo dõi quá trình phát triển của dự án khá lâu, nhưng vì sợ rủi ro nên ông chưa dám đầu tư, ngay khi ông nghe tin sắp có sản phẩm và doanh thu từ đàn l..ợ.n nên ông T mạnh dạn đầu tư 100 triệu đồng ở giá trị định là 500 triệu, tổng giá trị định giá hiện tại là 600 triệu và tỉ lệ cổ phần được phân chia lại như sau:

A Phủ có 311,685 triệu đồng – Tương đương: (311.685/600)x100 = 51.9475%
Nhà đầu tư X có 49.345 triệu đồng – Tương đương: (49.345/600)x100 = 8.2241%
Nhà đầu tư Z có 71.43 triệu đồng – Tương đương: (71.43/600)x100 = 11.905%
Nhà đầu tư X1 có 28,57 triệu đồng – Tương đương: (28.57/600)x100 = 4.7617%
Nhà đầu tư Y1 có 38.97 triệu đồng – Tương đương: (38.97/600)x100 = 6.495%
Nhà đầu tư T có 100 triệu đồng – Tương đương: (100/600)x100 = 16.6667%

Có tiền từ nhà đầu tư T, A Phủ tiếp tục làm việc, thuê chuyên gia, nhân sự, mở rộng mạng lưới b.á.n sản phẩm… tăng trưởng quy mô doanh nghiệp. Tiếp tục các vòng gọi vốn sau với hình thức tương tự.

Sau khi Sản phẩm của A Phủ rất tốt, mọi việc đi đúng hướng, mang lại lợi nhuận, sau nhiều vòng đầu tư, anh quyết định công khai doanh nghiệp (go public), niêm yết công ty lên sàn, hay gọi là IPO.

Về bản chất, IPO chỉ là một cách khác của việc kêu gọi đầu tư, nhưng lần này bạn có thể nhận tiền từ hàng triệu người. Thông qua việc IPO, công ty có thể b.á.n cổ phần trên thị trường chứng khoán, và ai cũng có thể mua cổ phần của công ty bạn.

Do đó, bạn có thể nhận được tiền đầu tư dễ dàng hơn thông qua việc b.á.n bớt cổ phần, đây chính là lý do đầu tiên. Lý do thứ hai, trước khi IPO, những người tham gia vào dự án của bạn, bao gồm cả bạn đều giữ những cổ phiếu giới hạn – restricted stock. Bạn không thể chỉ đơn giản mang những cổ phiếu này ra chợ và bán để lấy lại tiền, vì chúng chưa được chứng thực bởi cơ quan chức năng. IPO sẽ làm việc này.

Vậy nên, trước khi được kiểm chứng, ai dám chắc những người mua cổ phiếu của bạn sẽ không bị l.ừ.a đ.ả.o. Chính nhờ IPO, bạn và các nhà đầu tư khác có thể b.á.n, biến lượng cổ phiếu này thành tiền thật.

Làm thế nào để kêu gọi đầu tư?

Trên thực tế, để gọi vốn cho 1 ý tưởng và một bản kế hoạch kinh doanh trên giấy là cực kỳ khó và tỉ lệ thành công rất thấp. Nhà đầu tư họ muốn thấy được cái gì đó hữu hình có thể cầm, nắm, cân, đo, đong, đếm và định giá được. Họ muốn thấy quá trình hình thành, thấy các bước phát triển. Họ muốn thấy xương, máu của người sáng lập đã đổ ra sao?

Thấy kinh nghiệm quản trị, khả năng điều hành, chất lượng của đội ngũ sáng lập như thế nào? Để thuyết phục nhà đầu tư không những phải có ý tưởng, kế hoạch rõ ràng cụ thể và điều quan trọng nhất là tiềm năng phát triển, khoản lợi nhuận mà họ có thể có được khi đầu tư vào dự án của bạn.

Ba năm nữa nó ra sao, năm năm nữa nó sẽ trở thành cái gì?

Bạn cần phải đưa ra những thông số cụ thể, những kết quả mà bạn và đội nhóm đã thực hiện được. Nếu bạn không dám đầu tư thời gian, công sức và tiền bạc của bạn để hiện thực hóa ý tưởng của bạn thì ai dám tin bạn?

Ý tưởng tốt, kế hoạch tốt chỉ là một phần.

Tất cả mới chỉ ở trên giấy. Điều quan trọng nhất là khả năng thực thi, khả năng hiện thực hóa ý tưởng thành sản phẩm. Hãy hành động để show kết quả, show các bước tiến, các giai đoạn và cho nhà đầu tư thấy.

Đừng bao giờ quá tự hào về ý tưởng của bạn nó chẳng đáng giá 1 xu nào cả khi nó ở trên giấy. Đối với tôi, những ý tưởng thuộc loại độc nhất hay chưa ai làm đều có nghĩa là mọi người chưa có nhu cầu hoặc thị trường không đủ lớn. Hãy trả lời câu hỏi tại sao chưa ai làm? thay vì vỗ ngực tự hào về điều đó.

Khi nhận được đầu tư, không có nghĩa là bạn nhận được đủ số tiền nhà đầu tư cam kết đầu tư cho bạn. Họ sẽ giải ngân theo từng giai đoạn và có thúc ép tăng trưởng ứng với từng giai đoạn đó.

Nếu bạn không đưa dự án phát triển theo đúng cam kết khi nhận tiền từ quỹ đầu tư, rất có thể họ sẽ ngừng giải ngân cho các giai đoạn tiếp và nếu tỉ lệ cổ phần của nhà đầu tư cao hơn của bạn thì việc bạn bị đá ra khỏi dự án do mình sáng lập ra cũng chẳng có gì bất ngờ cả.

Ví dụ: bạn nhận được gói đầu tư là 100 triệu đồng. Công việc của bạn sẽ phải tăng trưởng dự án để có được mức định giá cao hơn. Cụ thể biến dự án được định giá từ 300 triệu đồng lên 500 triệu đồng.

- Giai đoạn 1: Rót 30% gói đầu tư, tương đương 30 triệu đồng, bạn phải phát triển lên một tầm nào đó để mức định giá doanh nghiệp khoảng 350 triệu.
- Giai đoạn 2: Rót thêm 30% nữa, bạn phải đưa mức định giá lên khoảng 400 triệu.

Nếu đưa lên được, bạn được rót thêm giai đoạn 3, không đưa lên được thì có thể ngừng rót vốn hoặc xử lý theo cam kết với nhà đầu tư.

Vậy nên, gọi được vốn đầu tư, không sướng như bạn nghĩ đâu. Đôi lúc vì sức ép từ nhà đầu tư, bạn phải làm những việc, làm sản phẩm không đúng với triết lý ban đầu của bạn, thay vào đó bạn phải làm mọi việc để nâng cao giá trị định giá.

Khi dự án càng rõ ràng, mục tiêu, kế hoạch, sản phẩm càng cụ thể thì giá trị định giá của doanh nghiệp càng cao. Bạn, đội nhóm của bạn càng phát triển được nhiều trong sản phẩm thì số lượng cổ phần của các bạn càng nhiều.

Khi gọi được vốn, đừng vì danh vọng đừng vì ảo tưởng báo chí mà kêu thật nhiều, gọi thật lắm, rồi có lúc bạn sẽ phải ân hận vì điều đó.

Hãy gọi số vốn vừa đủ để phát triển cho từng giai đoạn. Nếu thực sự tâm huyết và đam mê với sản phẩm hãy tỉnh táo và luôn dành thế chủ động trong đàm phán và quyền quyết định doanh nghiệp.

Thay vì chọn nhà đầu tư nhiều tiền, hãy chọn những nhà đầu tư cùng ngành, cùng lĩnh vực với dự án mà bạn đang phát triển. Đôi lúc, những hỗ trợ, kinh nghiệm, hướng dẫn, mối quan hệ và hệ sinh thái sản phẩm từ nhà đầu tư có giá trị hơn nhiều lần số tiền họ đầu tư.

Cách tốt nhất là liên tục phát triển và dành hết tâm sức cho dự án. Nhà đầu tư, họ rất nhạy cảm với tiền và lợi nhuận. Ở đâu có lợi nhuận, có tiềm năng thì chắc chắn có nhà đầu tư. Hãy khiến họ đến và xin được đầu tư vào dự án của bạn, thay vì đi gặp và thuyết phục họ.

Trên đây là đôi dòng tâm sự, kinh nghiệm, kiến thức và trải nghiệm của tôi. Một thằng đã từ chối rất nhiều nhà đầu tư. Và bạn đã đọc đến trang thứ 6 của khổ a4 rồi đấy. Hành động đi, người kiên trì như bạn mà không thành công thì không ai có thể thành công được đâu.

Tác giả: Nguyễn Tiến Trung
Via: Vietnam Business Insider
Ảnh: Khoinghiep. org

Văn hóa vingroup đã làm gì cho tôi

(Bài viết từ 2018 để onlyme - Hnay mới có dịp public và bổ sung thêm Fam House Apartment)

Làm việc cho Vingroup quả thật là khoảng thời gian đáng nhớ và đáng trân trọng trong sự nghiệp của tôi. Không phải chỉ bởi tôi được làm việc trong một môi trường đủ lớn và chuyên nghiệp mà thực sự Vingroup đã dạy tôi quá nhiều điều mà một người tầm tuổi tôi cần được học qua những trải nghiệm thực tiễn. Hay nói cách khác tôi đã học được từ Vingroup nhiều thứ lắm lắm. Những giá trị cốt lõi, tuyên ngôn giá trị của Người Vingroup đã thấm vào máu, vào tâm trí tôi từ lúc nào không hay. Mà một khi đã ngấm rồi thì hành động cần thiết tự nó sinh ra như những hành động phản xạ vô điều kiện. Mà đúng ra là Vingroup cũng đã thay đổi bản thân tôi rất nhiều trong những năm tháng qua.
Quan trọng hơn cả với tôi, một lần nữa tôi khẳng định tinh thần của người Vingroup đã giúp tôi thay đổi bản thân và áp dụng được quá nhiều thứ có hiệu quả trong cuộc sống của mình. Và dưới đây là những thứ tôi đã học được và áp dụng được cho các cơ sở kinh doanh của mình.

- #Tốc_độ_và_hiệu_quả_trong_từng_hành_động. Ví dụ: khi tôi khai trương các cơ sở kinh doanh của mình với các thương hiệu:
#Kim_Long_Quán
#Món_Huế_tại_Đà_Nẵng
#Quán_cơm_Cô_chủ_nhỏ
#Xe_chung_247
Có những lúc chúng tôi chỉ cần 7-10 ngày chuẩn bị cho mọi thứ với team 4 người, chạy liên tục, không ngừng nghỉ vì ngày khai trương đã chốt - không thể thay đổi được. Cũng có lúc nản thật đấy nhưng với tinh thần người Vingroup đã thấm vào máu thì không gì là không thể và chúng tôi cũng đã có những ngày khai trương được diễn ra đầy ấn tượng. Đó chính là nhờ Vingroup đã dạy cho tôi bài học về tốc độ, về hiệu quả trong từng hành động, một bài học không mới nhưng không phải ai cũng thấm và thực hành thuần thục.

- #Quyết_liệt_trong_mọi_công_việc: Team của Kim Long Quán toàn bạn trẻ và thực sự chưa hiểu cách làm việc để làm sao đảm bảo chất lượng và hiệu quả như đã cam kết với khách hàng. Lúc này những gì Vingroup đã dạy, tôi đã và đang áp dụng toàn bộ: tôi yêu cầu các bạn phải thường xuyên kết nối và biết cách đòi hỏi lẫn nhau. Tuyệt đối không xuề xoà, làm cho xong hay làm đối phó. Và hiện nay, mọi thứ đã ổn từ thái độ phục vụ đến chất lượng món ăn đã được cải thiện hàng ngày và đặc biệt là vấn đề vệ sinh an toàn thực phẩm đã đảm báo và tuân thủ tuyệt đối quy trình VSATTP. Những gì Vingroup dạy tôi và tôi đang tiếp tục dạy lại các bạn trẻ tại Kim Long Quán nó thể hiện rất rõ sứ mệnh "vì một cuộc sống tốt đẹp hơn cho Người Việt". Tinh thần Vingroup được lan tỏa trong xã hội như thể đó là tinh thần của người Việt. Theo tôi đây cũng chính là việc đã góp phần để thực hiện mong muốn để lại một thứ gì đó tốt đẹp cho đời.

- #Thượng_tôn_kỷ_luật: đây là nội dung tôi rất tâm đắc và áp dụng triệt để tại 2 cơ sở của Kim Long Quán. Tinh thần kỷ luật luôn được tôi duy trì tại nơi đây. Đó chính là những điều tôi học được từ Vingroup. Lúc đầu các bạn trẻ nhân viên của tôi rất ngạc nhiên và bỡ ngỡ, thậm chí phản đối. Nhưng tôi đã nghĩ ra cách để áp dụng triệt để bài học này từ Vingroup và đã giúp Vingroup có được thành công như ngày hôm nay. Tôi đã đầu tư một con heo đất để các bạn tự "nuôi" bằng cách mỗi vi phạm các bạn tự nộp vào heo đất 20 - 30k, tuỳ lỗi. Việc này thực sự đã tạo ra sự tuân thủ một cách hào hứng bởi toàn bộ số tiền trong heo đất sẽ được chi cho các bạn cùng đi uống trà sữa/liên hoan hàng tháng.
- #Tinh_thần_dịch_vụ_5_sao: Dù là hai quán ăn nhỏ - 1 là các món Huế tại Đà Nẵng với không gian truyền thống và 1 là Quán cơm gia đình mang tên “Cô chủ nhỏ” nhưng tôi đã áp dụng được tinh thần dịch vụ vào trong hai cơ sở của mình: Những quy tắc dịch vụ của ngành khách sạn hay những quy định không sử dụng điện thoại, không làm việc riêng, luôn chỉn chu, sẵn sàng phục vụ trong giờ làm việc,…Những điều này đã góp phần chung tay xây dựng môi trường tiêu dùng văn minh, an toàn và tốt đẹp cho khách hàng.

- #Kiểm_soát_chất_lượng, #báo_cáo vận hành, #morning_briefing,…: Đây có lẽ là những cụm từ mà ai trong chúng ta, những người làm Vinpearl, Vingroup đều biết và thấm. Đây cũng là điều tôi áp dụng thường xuyên hàng ngày, đặc biệt tôi có luôn cả đội Kiểm soát chéo 2 cơ sở, báo cáo bằng hình ảnh trên nhóm chung và duy trì evening briefing vào cuối mỗi ngày…

Đọc đến đây chắc hẳn ai cũng biết được tôi đã học được những gì từ Vingroup hay Vingroup đã cho tôi những gì. Có lẽ nó còn nhiều hơn những gì tôi vừa viết trên đây. Nhưng thời gian đã hết, giờ đi ngủ đã để ngày mai tiếp tục chiến đấu...
Mong tất cả các anh chị hiện đang làm hoặc đã từng làm việc tại Vingroup cùng đọc, cùng học và suy ngẫm. Và theo tôi chúng ta nên học và áp dụng những gì mình học được từ những giá trị tốt đẹp của Người Vingroup vào cuộc sống như sứ mệnh của Tập đoàn “Vì một cuộc sống tốt đẹp hơn cho người Việt”.

Những gì chúng ta quyết định làm chính là cái thực sự đáng để lại cho đời, cho bao thế hệ sau của Người Việt Nam.

Trân trọng!
H’apato
Pham To Hoai cùng với TraMy Nguyen tại Fam House - Apartments for Rent in Danang, Vietnam.

Doanh nghiệp sản xuất ở quê có thể làm được gì?

Mấy nay hem có thời gian viết bài vì hot trend "Chanh Sả gừng" đây, mình chỉ mới có làm Sả sấy khô phục vụ bà con thôi mà chạy muốn xỉu, ngày nào cũng sản xuất tới tận 9,10h tối để kịp hàng. Sáng thì làm bốc vác Sả, chiều thì làm Shipper Sả, Tối còn làm sổ sách kế toán, đơn hàng, ghi nhật ký chế biến sản xuất. Nên mới mấy ngày mà nhan sắc để đi xuống nhẹ, mắt đã thâm hơn, tay bị phồng nhẹ, lưng mỏi, mấy cục mụn được nổi lên gương mặt thanh tú đen xạm của tui. Tuy vẻ bề ngoài hơi xuống xíu, nhưng trong tâm tui nhảy múa rộn ràng vì hạnh phúc. Hạnh phúc vì mỗi sản phẩm mình bán ra là người nông dân trồng sả họ sẽ có thu nhập tốt hơn, hạnh phúc vì giúp được những người hàng xóm mình có thêm thu nhập, và hạnh phúc vì mỗi sản phẩm đến với khách hàng là giúp Khách hàng được cải thiện sức khỏe những lúc cần thiết như thế này.

Mấy hôm nay giãn cách chỉ thị 16 nên việc di chuyển rất khó khăn cho mọi người, chợ nông sản thì đóng, xe vận chuyện cũng không đi nhiều, người nông dân chở hàng đi bán cũng không được, mà kênh tiêu thụ truyền thống trước giờ là 90% là đi theo kênh các chợ đầu mối. Mấy hôm trước mình có lên xin giấy di chuyển ở UBND Xã thì hàng người xếp hàng dài để được xin giấy, có người rẫy xa thì khóc ròng vì không tưới nước được, anh thợ hồ, thợ điện, thợ mộc thì mất việc làm. Nói chi xa nhà cô Hai hôm bữa mình có kể trong bài viết "Chuyện làm đẹp cuối tuần" là hàng xóm của nhà mình, cô Hai thì bán bánh căn, bánh xèo ngày kiếm được khoảng 100k tiền lời đi chợ hàng ngày, Nhà cô có cô, vợ chồng con cô, và hai cháu, Con cô là anh G là thợ điện, thợ mộc, thợ máy, cái nào anh cũng giỏi lại chăm chỉ nữa, nhà cửa điện đài, máy móc rồi lắp pin năng lượng mặt trời cái nào cũng làm được. Nhưng mùa này ảnh nói ảnh thất nghiệp vì không đi làm được, ảnh hỏi mình em có cần vk ck anh làm sả phụ không chứ ở nhà mà không làm gì thì không có thu nhập, dịch mới mấy ngày mà đói luôn không biết kéo dài thì lấy gì ăn, với lại ở không rất buồn chán. "Đúng là người chăm chỉ, chịu khó họ luôn làm cho mình bận rộn, tìm việc để làm cũng chả có cái quái gì phải sỉ với chả diện hết, thật đáng trân trọng" Nghe ảnh nói mình thầm nghĩ như vậy trong lòng. Mình suy nghĩ một hồi về lời nói của ảnh và gia đình nhà cô Hai từ trên đường chở Sả về nhà, và mình nghĩ đến nếu Covid này kéo dài thì làm sao những gia đình như nhà cô Hai có thể duy trì cuộc sống được.

Vừa về đến nhà mình chạy sang nhà hỏi nhờ vk ck anh G qua Làm Sả phụ giúp để có thể giúp anh chị có thêm thu nhập.
Nhờ có anh G mà hơn 30kg Sả cắt trong một buổi chiều là xong, trong lúc đó mình còn đi chở Sả mới cho ngày mai, Hương còn phải đóng gói hàng, vừa coi mẻ Sấy hiện tại. Hương quay sang bảo mình nếu công ty mình lớn hơn mình sẽ mời anh G về làm Kĩ thuật cho công ty thì rất tuyệt vời luôn vì ảnh sáng tạo ghê lắm, cắt có xíu đòi chế luôn cái máy cắt sả nữa chớ cho nhanh hơn đỡ mỏi tay. Dân nhà nghề có khác. Ngoài ra mộc của ảnh rất Pro luôn nhé, anh chị em nào có đặt hàng bàn ghế trong nhà ở Ninh Thuận mình giới thiệu cho ảnh có thêm thu nhập mùa này nhen.

Cho "cá" thì ăn cũng hết, còn cho công việc thì như cần câu vậy có thể giúp cho người khác tự chủ được cuộc sống của mình. Mình nghĩ một người tự chủ thì bớt áp lực cho gia đình, một gia đình tự chủ có thể bớt đi áp lực lên cho xã hội.
Qua việc này mình nghĩ về ý nghĩa xã hội của một doanh nghiệp sản xuất đặt tại thôn làng có thể làm được gì? Qua mùa Covid này như một phép thử vậy, chỗ nào yếu kém, không hiệu quả sẽ được hiện ra hết, hàng hóa thì tồn đọng, vận chuyển hàng tươi rất khó khăn, mà nông sản chỉ bán phụ thuộc nguyên liệu tươi thì giá thấp, lại bấp bênh, dễ hư hỏng. Thay vì phải chở cả 100kg Sả thì bây giờ chỉ gói gọn khoảng 10kg Sả khô đóng gói chỉ có vài chục túi thôi, vừa dễ vận chuyện, dễ bảo quản mà sử dụng lại tiện lợi cho khách hàng nữa. Qua quá trình chế biến như vậy thì chính doanh nghiệp sản xuất cũng làm cho giá trị nông sản tăng cao hơn, còn nếu qua sự sáng tạo thêm để chế biến sâu thi giá trị cao hơn nữa thì từ đó doanh nghiệp của mình có thể mua lại nông dân giá cao hơn, chứ từ khi về quê tới giờ mình nghe rất nhiều câu chuyện người làm nông ai cũng thật sự khó khăn vì thời tiết biến đổi, công cán lại cao, phân bón thì tăng mà giá bán thì không thấy lên. Cứ vậy mà người ta bỏ sứ đi vô Bình Dương Sài Gòn hết, chỉ còn lại mảnh vườn xơ xác, hoang tàn.

Ngoài gia tăng giá trị nông sản ra thì doanh nghiệp càng lớn lên, trước tiên là tạo công ăn việc làm ổn định cho nhiều người, tiếp đến là một môi trường làm việc thật tốt để nhân viên phát triển. Mình rất thích tư tưởng và triết lý của Inamori Kazuo "mục đích của kinh doanh là mang lại hạnh phúc cả về vật chất lẫn tinh thần cho toàn thể nhân viên".

Mình chỉ buồn là lúc này lực mình còn nhỏ quá, không làm được gì nhiều, chỉ giúp được vài ba tạ Sả thôi, chẳng suy nhê vào đâu cả trong khi còn nhiều mặt hàng nông sản khác nữa. Có cái mấy sấy lạnh mà nó chạy công suất gần như 24/24 mấy ngày qua nhìn mà muốn tội luôn hihi. Mình đứng bên cạnh nói với nó "em ráng nghe để anh ráng cày để rước anh trai hàng to to cỡ 100-200 ký ấy về sum hợp" Hehe. Giờ bịnh quá nói chuyện với cả máy móc kk.

Nên mục tiêu tiếp theo của mình sẽ là xây dựng nhà máy tại quê nhà.

Rồi vài ba năm nữa mục tiêu đó sẽ thành hiện thực. Lúc đó mình tưởng tượng đến một không khí lao động hăng xay của anh em cộng sự trong công ty, những nụ cười của những người nông dân và cả những nụ cười, niềm hạnh phúc của mọi người khi cùng nhau tạo ra sản phẩm tử tế, chất lượng cao đến cho khách hàng bằng nông sản, đôi bàn tay và khối ốc của chính người Việt. Hạnh phúc đích thực là khi hạnh phúc cùng nhau.

Viết tới đây thôi bữa sau viết tiếp về ước mơ vì có ai đánh thuế ước mơ đâu nè.

Bạn giữ gìn sức khỏe nhé, nhớ ord…er Sả sấy khô để uống làm trà cho giữ ấm cơ thế, kháng khuẩn, tăng sức đề kháng mùa dịch này nhen. Mà nhớ mua kèm chùm ngây nữa vì Sả, Gừng có tính nóng, ấm nên cần chùm ngây có tính mát để Cân bằng. Nếu ví Sả, gừng là Thanh (thanh lọc) thì Chùm ngây là Điều, Bổ (Bổ sung dinh dưỡng) thì cơ thể sẽ cân bằng từ đó mà phòng được bệnh.

TH FOODS
Le Trung Thu

KHÁCH HÀNG hay NHÂN VIÊN – HẠNH PHÚC hay ÁP LỰC?

Khách hàng là số 1? Hay nhân viên là số 1? Dĩ nhiên, Nhân viên là số 1… Ai trả lời vầy sẽ được mọi người quý mến cho mà xem... Nói đúng và nói đúng theo tư duy của số đông... Tuy nhiên đi sâu hơn chút xem sao

1.NHÂN VIÊN LÀ SỐ 1

Nhìn thử xem, Zappos, một trong những Unicorn tỷ USD đã kiên trì theo đuổi lý tưởng “Giao hạnh phúc – Delivering Happiness” với triết lý xây dựng văn hóa công ty hạnh phúc của CEO Tony Hsieh. Zappos sau đó đã trở thành công ty bán giày online lớn nhất thế giới trước khi được Amazon mua lại với mức giá hơn 1 tỷ USD

Câu trả lời đã rõ ràng chưa? Nhân viên là số 1…

Hãy khoan khoan và lật lại câu hỏi, có thực sự triết lý “Giao hạnh phúc” tạo thành nền tảng thành công của Zappos?

2.TRIẾT LÝ "GIAO HẠNH PHÚC"

Tôi nghi ngờ điều đó, mặc dù tôi thành thật khuyên bạn nên đọc cuốn sách “Giao hạnh phúc” - Delivering Happiness của Tony Hsieh bởi đây là một cuốn sách rất sinh động về một công ty khởi nghiệp với khát vọng thay đổi thế giới và có nhiều đoạn mà những người kinh doanh, đặc biệt đang trong giai đoạn khởi nghiệp hoặc đang vật lộn với một công ty non trẻ sẽ gần như soi đươc hình ảnh của mình trong đó

Quay trở lại, Bí quyết thành công của Zappos là gì? Có phải đó là “giao hạnh phúc” giống như tự đề cuốn sách? Mỗi khi giao cho khách hàng một đôi giày, chẳng phải Zappos đã giao cho khách hàng một chút hạnh phúc hay sao?

3.SỰ THẬT U BUỒN

Theo tôi, không phải cảm xúc “hạnh phúc” làm nên thành công của Zappos. Công thức thành công của Zappos dựa trên câu slogan “Miễn phí giao hàng. Hai chiều” (“Free shipping. Both way).

Câu slogan đó là một lời cam kết và trấn an khách hàng. Khách hàng mua sắm trên mạng sợ nhất gì? Đó là sản phẩm kém chất lượng, không vừa ý, khác với hình ảnh trên trang web. “Miễn phí giao hàng. Hai chiều” khiến khách hàng tin tưởng. Nếu không thích đôi giày đó, khách hàng có thể trả lại và được giao vận cả khi nhận hàng lẫn lúc trả lại.

Bonus: Khi Tony Hsieh qua đời, nếu đào thêm một ít info thì khó có thể cho rằng anh đã có những năm tháng cuối đời hạnh phúc...

Thế nên, hãy nghi ngờ tư duy nhân viên là số 1?

4.VẬY KHÁCH HÀNG LÀ SỐ 1?

Chứ còn gì nữa? Cứ cho là Zappos thành công bởi triết lý “nhân viên hạnh phúc” đi, thế công ty mua lại Zappos là công ty nào? Đó là Amazon, công ty luôn bị phàn nàn là có điều kiện lao động khắc nghiệt bậc nhất thế giới.

Thậm chí, CEO của Amazon là Zeff Bezos luôn hướng đến việc tự động hóa và loại bỏ yếu tố con người ở mức tối đa có thể. Hệ thống kho vận của Amazon trang bị máy móc để tối ưu công suất. Tất cả chỉ để phục vụ 1 mục tiêu, hàng tốt, giá tốt và phục vụ thật tốt Khách hàng

Với Amazon, con người không phải số 1, Khách hàng là số 1…

Vậy Khách hàng là số 1?

Theo tôi, không hẳn vậy…

5.CÁI GÌ LÀ SỐ 1?

Để trả lời câu hỏi: “Khách hàng là số 1? Hay nhân viên là số 1?”

Hãy cứ mị dân và lấy lòng mọi người một cách an toàn khi chọn 1 trong 2 đáp án trên. Còn không, cứ thẳng thắn mà trả lời là “Tùy…”

Bởi có một số ngành hàng thì chẳng phải khách hàng hay nhân viên…

Ví dụ như Apple? Steve Jobs huyền thoại nổi tiếng là nhà lãnh đạo có phong cách khá độc tài.

Steve Jobs không mấy coi trọng nhân viên. Ông có thể đi thang máy cùng một nhân viên và vì một lý do nào đó ông ngứa mắt và khi đi ra khỏi thang máy ông quyết định sa thải luôn nhân viên đi cùng thang máy.

Steve Jobs có coi trọng khách hàng không? Tôi nghĩ không quá coi trọng. Bởi ông từng phát biểu: “Khách hàng không biết họ muốn gì cho đến khi chúng ta đưa cho họ điều họ muốn”

Vậy nhân viên hay khách hàng quan trọng hơn? Trong trường hợp này, có lẽ lại là sự đột phá về công nghệ, hay nói cách khác, đó là những phát minh mà công ty đang nắm giữ…

Với Thế Giới Di Động, có thể đó là Hệ thống CNTT và Business Inteligence rất khủng mà công ty đang nắm giữ, sau đó là Hệ thống cửa hàng bán lẻ, rồi mới đến Con người or Khách hàng

Với VinGroup, có thể đó là Quỹ đất Khủng và Năng lực thi công thần tốc, rồi mới đến Con người or Khách hàng

Khách hàng hay nhân viên là số 1?

Tuỳ công ty đang ở gia đoạn phát triển nào. Tuỳ ngành nghề lĩnh vực công tý đang tham gia. Cơ bản là: “Tùy thôi”…

Hoang Tung (mr Pizza)

Bổ sung: Business Intelligence – BI là gì? Để hiểu đơn giản, BI (hay còn được gọi là trí tuệ doanh nghiệp) là một dạng công nghệ giúp doanh nghiệp hiểu biết về quá khứ, qua đó đưa ra quyết định, hành động và dự đoán tương lai. Trong đó BI bao gồm các kỹ năng, quy trình, công nghệ hay ứng dụng để hỗ trợ ra quyết định. BI là các hoạt động kết hợp giữa phân tích kinh doanh, khai thác dữ liệu, trực quan hóa dữ liệu, công cụ dữ liệu và cơ sở hạ tầng và thực tiễn để giúp tổ chức ra các quyết định-dựa trên data (data-driven decision).

High salary, High demand

Công ty càng trả Lương cho chúng ta càng cao thì chúng ta phải làm được những điều lớn (chiếm từ 70% đến 90%) thời gian của chúng ta. Chứ không phải công ty trả lương cao cho các vị trí quản lý (Team Leader, Manager trở lên) để chúng ta đi làm dùm việc của Nhân viên. Tuy nhiên, khi cần thiết thì việc của Nhân viên vào tay Manager thì chúng ta cũng làm xuất sắc không kém, dù là tạm thời hay ngắn hạn theo kiểu "giải quyết sự cố". Không có người Sếp nào chấp nhận việc trả lương cao cho 1 vị trí Quản lý rồi để họ đi làm công việc của Nhân viên (cấp dưới) hết.

Trước đây, năm 2009, lúc còn làm Trưởng phòng Kinh doanh thì khi đi thương thảo hợp đồng với Sếp và 3 bên nữa (Chủ đầu tư, BQL và 2 công ty Liên danh khác), trong khi Thư ký dự án đánh máy chậm thì mình nhảy vào đánh văn bản, vừa thương thảo từng điều khoản của Hợp đồng luôn vì đánh máy được 10 ngón. Có những kỹ năng mềm mà phải luyện rất lâu, khi nào cần dùng thì phải dùng.

Nếu mình đang là TGĐ, Chủ tịch thì phải đi giải quyết những việc lớn, những việc mang tính Chiến lược, Hệ thống.... và những vị trí khác như PTGĐ, KTT, GĐ/PGĐ công ty, Sales Director, Trưởng phòng thì phải tập trung cho những mục tiêu lớn quan trọng nhưng không gấp (chiếm 80% thời gian), việc mà Sếp yêu cầu phải hoàn thành, thì khi đó mới đạt được yêu cầu công việc.

Chairman of Viet An Group - Nguyễn Hoài Thi

Cách xây và hướng dẫn đọc hệ thống báo cáo tài chính (Update 2021 + File Excel)

Bài này hay và như 1 quyển sách về tài chính. Nếu áp dụng theo có thể xây dựng được hệ thống theo dõi tài chính.

BÁO CÁO TÀI CHÍNH LÀ GÌ?

Báo cáo tài chính (BCTC) cung cấp thông tin liên quan đến hoạt động tài chính của doanh nghiệp, như: tài sản, nợ, vốn chủ sở hữu, doanh thu, lợi nhuận, dòng tiền…

Báo cáo thường được công bố định kỳ vào cuối mỗi quý và vào cuối năm.

Bộ báo cáo tài chính hoàn chỉnh bao gồm:

  • Báo cáo của Ban giám đốc
  • Báo cáo của công ty kiểm toán độc lập
  • Bảng cân đối kế toán
  • Báo cáo kết quả hoạt động kinh doanh
  • Báo cáo lưu chuyển tiền tệ
  • Thuyết minh báo cáo tài chính

Bạn nên bắt đầu như thế nào?

Bước #1: Xem ý kiến của Kiểm toán viên

Rất nhiều người khi đọc BCTC thường bỏ qua phần Ý kiến của kiểm toán, trong khi…

… đây là phần quan trọng đầu tiên mà bạn cần chú ý đến!!!

Tại sao?

Các số liệu trên BCTC sẽ không có ý nghĩa nếu kiểm toán không chắc chắn về tính trung thực của nó.

Hãy xem ý kiến của Kiểm toán viên (KTV) đối với báo cáo của doanh nghiệp ở đây là gì?

Có 4 mức độ hay ý kiến của KTV về tính trung thực của 1 bộ báo cáo. Đó là:

  • Chấp nhận toàn phần
  • Ngoại trừ
  • Không chấp nhận
  • Từ chối.

Ví dụ:

Báo cáo tài chính - Ý kiến KTV

Khi KTV đưa ra ý kiếm kiểm toán là Chấp nhận toàn phần. Điều này có nghĩa BCTC đã phản ánh trung thực, hợp lý…

Bạn có thể tin tưởng và sử dụng báo cáo cho việc phân tích.

Vì nếu BCTC có sai sót đáng kể thì đã được KTV phát hiện và doanh nghiệp đã điều chỉnh theo đề nghị của KTV.

Y-kien-cua-kiem-toan-vien

Mức độ tin cậy của BCTC sẽ giảm dần tương ứng với 4 ý kiến kiểm toán trên.

Và khi ý kiến Từ chối được đưa ra cho BCTC của 1 doanh nghiệp, thì tốt nhất, bạn nên tránh xa doanh nghiệp đó.

Bước #2: Đọc hiểu Bảng cân đối kế toán

Đây là bảng số liệu quan trọng đầu tiên của doanh nghiệp. Nó thể hiện tình hình tài chính của doanh nghiệp tại một thời điểm nhất định.

Bảng cân đối kế toán cho bạn biết tại thời điểm này mọi thứ đang ở đâu?”

Kết cấu của Bảng cân đối sẽ gồm 2 phần là Tài sản và Nguồn vốn

Bạn cần nhớ phương trình cân bằng:

Tài sản = Nợ phải trả + Vốn chủ sở hữu

Tài sản

Đây là những thứ thuộc sở hữu của doanh nghiệp, có khả năng tạo ra lợi ích kinh tế cho doanh nghiệp.

Tài sản được phân thành 2 loại, là: Tài sản ngắn hạn và Tài sản dài hạn.

# Tài sản ngắn hạn

Là những loại tài sản có thể dễ dàng chuyển đổi thành tiền mặt trong vòng dưới 1 năm hoặc 1 chu kỳ kinh doanh.

Bao gồm các mục chính như:

  • Tiền và tương đương tiền: gồm tiền mặt và tiền gửi ngân hàng. Đây là loại tài sản có tính thanh khoản cao nhất của doanh nghiệp. Khoản mục này cũng là một trong số ít khoản mục ít bị tác động bởi kế toán.
  • Các khoản phải thu: là số tiền mà khách hàng chưa thanh toán (còn nợ) cho doanh nghiệp. Đây là khoản mục mà bạn cần theo dõi sát sao.
  • Hàng tồn kho: Là giá trị hàng dự trữ của doanh nghiệp. Đó có thể là: nguyên vật liệu, bán thành phẩm, thành phẩm hoặc hàng hóa…

Tùy thuộc từng doanh nghiệp mà tỷ trọng phân bổ hàng tồn kho sẽ khác nhau. Ví dụ, một doanh nghiệp sản xuất thì sẽ tồn kho một lượng lớn nguyên vật liệu.

Trong khi đó, doanh nghiệp thương mại thì thường tồn kho chủ yếu là hàng hóa, thành phẩm.

# Tài sản dài hạn

Là những tài sản sẽ có thời gian sử dụng trên 1 năm.

Trong đó, Tài sản cố định là khoản mục quan trọng.

Tài sản cố định bao gồm: Tài sản hữu hình (như máy móc thiết bị, nhà xưởng, máy tính…) và Tài sản vô hình (như bằng sáng chế, bản quyền phát minh…)

Nợ phải trả

Nợ phải trả và Vốn chủ sở hữu sẽ nằm trong Nguồn vốn, phản ánh nguồn hình thành tài sản của doanh nghiệp.

Nợ phải trả thể hiện nghĩa vụ tài chính của doanh nghiệp đối với bên ngoài.

Ví dụ như: chủ nợ, nhà nước, nhà cung cấp, người lao động…

Tương tự tài sản, Nợ phải trả cũng được chia làm 2 loại: Nợ ngắn hạn và Nợ dài hạn.

# Nợ ngắn hạn là những khoản nợ và các nghĩa vụ tài chính phải thanh toán dưới 1 năm.

# Nợ dài hạn là những khoản nợ và nghĩa vụ tài chính được phép thanh toán trên 1 năm.

Các khoản mục chính ở phần này bao gồm:

  • Phải trả người bán: Thể hiện số tiền mà doanh nghiệp chưa thanh toán (còn nợ) cho nhà cung cấp.
  • Thuế và các khoản phải nộp nhà nước, Phải trả người lao động…: Tương tự, đây là khoản phải trả của doanh nghiệp đối với nhà nước (về thuế GTGT, thuế TNDN…), phải trả cho người lao động.
  • Vay và nợ ngắn hạn/dài hạn: Là khoản tiền vay nợ tín dụng. Nếu như các khoản nợ trên là nợ chiếm dụng (doanh nghiệp không mất chi phí sử dụng vốn), thì với khoản vay này doanh nghiệp phải trả chi phí sử dụng vốn (trả lãi vay cho ngân hàng).

Vốn chủ sở hữu

  • Vốn góp chủ sở hữu: hay vốn cổ phần, là số vốn thực tế được góp vào doanh nghiệp.
  • Lợi nhuận chưa phân phối: Nếu trong năm tài chính, doanh nghiệp quyết định tái đầu tư thì phần lợi nhuận giữ lại sẽ được chuyển từ Báo cáo kết quả hoạt động kinh doanh vào tài khoản này.
  • Ngoài ra có các loại quỹ như Quỹ đầu tư phát triển,…

Mục này đại diện cho tổng giá trị tài sản ròng của doanh nghiệp. Để Bảng cân đối kế toán cân bằng thì con số chênh lệch giữa Tài sản và Nợ phải trả sẽ là Vốn chủ sở hữu của doanh nghiệp.

Cách đọc Bảng cân đối kế toán

  • B1: Liệt kê những mục lớn trong Tài sản – Nguồn vốn.
  • B2: Tính toán tỷ trọng các khoản mục này trong Tài sản và Nguồn vốn, và sự thay đổi của các khoản mục tại thời điểm báo cáo.
  • B3: Note lại những mục chiếm tỷ trọng lớn, hoặc có sự biến động lớn về mặt giá trị ở thời điểm báo cáo.

Tại sao chúng ta chỉ quan tâm đến những thay đổi lớn và tỷ trọng lớn?

Về lý thuyết, tất nhiên, bạn sẽ phải tìm hiểu tất tần tật những sự thay đổi đang diễn ra trên Bảng cân đối kế toán.

Tuy nhiên công việc đó tốn khá nhiều thời gian, công sức.

Việc lựa chọn những khoản mục chiếm tỷ trọng lớn trong cơ cấu Tài sản – Nguồn vốn giúp bạn trả lời được câu hỏi:

Phần lớn tài sản của doanh nghiệp đang tập trung ở đâu? Nguồn hình thành tài sản của doanh nghiệp chủ yếu đến từ nguồn nào?

Sự thay đổi của những khoản mục này thường sẽ “trọng yếu” hơn, quan trọng hơn, và thể hiện rõ hơn tình hình tài chính của doanh nghiệp.

Tất nhiên, nếu muốn, bạn vẫn có thể giành thời gian tìm hiểu thêm những mục còn lại trên Bảng cân đối kế toán.

Chúng ta sẽ lập 1 bảng tính Excel để theo dõi sự thay đổi này.

Bạn có thể tải về – tại đây.

Lưu ý: Đây chỉ là file tính rất đơn giản, bạn hãy tự bổ sung thêm các công thức, chỉ tiêu tài chính khác mà bạn biết nhé!

Ví dụ

Trong bài viết này, tôi sẽ sử dụng báo cáo tài chính 2019 của NT2 để làm mẫu.

Báo cáo tài chính - Bảng CĐKT - Tài sản

Cuối năm 2019, tổng tài sản của NT2 đã giảm -16.6% so với cùng kỳ năm 2018.

Tài sản của NT2 (năm 2019) tập trung chủ yếu ở: Tiền và các khoản tương đương tiền, Các khoản phải thu ngắn hạn, và Tài sản cố định.

Đây là những khoản mục bạn cần phải quan tâm trước tiên ở phần Tài sản của NT2.

Chúng ta sẽ đi sâu vào tìm hiểu sự thay đổi này khi đến Bước#5 của bài viết (Đọc hiểu Thuyết minh BCTC).

Bên cạnh đó, việc tính toán tỷ trọng trong Tài sản cũng giúp bạn đánh giá sơ bộ liệu doanh nghiệp có đầu tư tài sản 1 cách hợp lý?

NT2 là doanh nghiệp sản xuất điện, sở hữu nhà máy nhiệt điện khí Nhơn Trạch 2. Vậy thì rõ ràng tài sản được đầu tư lớn nhất của NT2 sẽ là tài sản là tài sản cố định (cụ thể, chiếm >64% cơ cấu tài sản của doanh nghiệp). Điều này là hợp lý!

Báo cáo tài chính - Bảng CĐKT - Nguồn vốn

Tương tự, các khoản mục cần chú ý ở Nợ phải trả là:

  • Vay ngắn hạn;
  • Phải trả nhà cung cấp;
  • Chi phí phải trả ngắn hạn;
  • Vay dài hạn.

Và, những thay đổi ở Vốn chủ sở hữu là:

  • Vốn góp của CSH;
  • Và, Lợi nhuận sau thuế chưa phân phối.

Tips: Nhận diện sớm rủi ro từ Bảng cân đối kế toán: Sự mất cân đối tài chính

Một trong những yếu tố quan trọng của sự cân đối tài chính đó là tài sản dài hạn cần được tài trợ bởi nguồn vốn dài hạn tương ứng.

Một doanh nghiệp tài trợ cho 1 dự án đầu tư dài hạn 15 năm chỉ bằng khoản vay 6 năm thì, không sớm thì muộn, điều này sẽ tiềm ẩn rủi ro lớn và đem đến áp lực về khả năng thanh toán cho doanh nghiệp.

Để sớm nhận biết được điều này, bạn cần quan sát xu hướng biến động của Vốn lưu động thuần (NWC):

Net working capital (NWC) = Tài sản ngắn hạn – Nợ ngắn hạn

Nếu NWC có xu hướng giảm dần và đặc biệt chuyển sang âm lớn thì điều này đang báo hiệu sự xuất hiện ngày càng rõ rệt của mất cân đối tài chính. NWC < 0, cho thấy công ty đã dùng nợ ngắn hạn tài trợ cho tài sản dài hạn.

Bạn có thể tìm hiểu thêm: 10 chỉ số bảng cân đối mà mọi nhà đầu tư đều cần phải biết khi đầu tư chứng khoán.

Bước #3: Đọc hiểu Báo cáo kết quả hoạt động kinh doanh

Chúng ta sẽ chuyển sang báo cáo quan trọng thứ 2, Báo cáo kết quả hoạt động kinh doanh (KQKD).

Báo cáo KQKD là báo cáo tổng kết doanh thu, chi phí hoạt động của doanh nghiệp trong kỳ báo cáo (quý hoặc năm tài chính).

Báo cáo KQKD chia hoạt động của doanh nghiệp thành 3 mảng: Hoạt động kinh doanh chính (hoạt động cốt lõi), Hoạt động tài chính và Hoạt động khác.

Công thức chung ở phần này là: Lợi nhuận = Doanh thu – Chi phí

Hoạt động kinh doanh chính

Bao gồm các khoản mục:

  • Doanh thu thuần về bán hàng và cung cấp dịch vụ: Đây là doanh thu từ hoạt động kinh doanh “nòng cốt” của doanh nghiệp (sau khi trừ các Khoản giảm trừ doanh thu). Thông thường, đây là hoạt động chiếm tỷ trọng lớn nhất trong cơ cấu doanh thu.
  • Giá vốn hàng bán: Thể hiện tất cả chi phí để làm ra hàng hóa, dịch vụ đã cung cấp.
  • Lợi nhuận gộp = Doanh thu thuần BH, CCDV – Giá vốn hàng bán
  • Chi phí bán hàng, chi phí quản lý doanh nghiệp (QLDN).

Bạn có thể tính toán chỉ số:

Biên lợi nhuận gộp = Lợi nhuận gộp / Doanh thu thuần về bán hàng, CCDV

Chỉ số này cho biết…

…tỷ suất lợi nhuận thu được từ bán hàng và CCDV của doanh nghiệp là bao nhiêu?

Hệ số này nếu được doanh nghiệp duy trì ổn định, ở mức cao trong dài hạn, chứng tỏ doanh nghiệp có lợi thế cạnh tranh khá rõ nét.

Hoạt động tài chính

Bao gồm các mục:

  • Doanh thu tài chính: có từ các nguồn như: lãi tiền gửi, lãi từ nhận đầu tư, lãi chênh lệch tỷ giá…
  • Chi phí tài chính: gồm có chi phí lãi vay, lỗ chênh lệch tỷ giá, dự phòng các khoản đầu tư tài chính,… phát sinh trong kỳ báo cáo của doanh nghiệp.

Trong đó: Chi phí lãi vay và Lỗ chênh lệch tỷ giá (nếu có) là 2 loại chi phí quan trọng mà bạn cần chú ý.

Lấy doanh thu trừ đi chi phí ở 2 hoạt động này, ta được Lợi nhuận thuần:

Lợi nhuận thuần từ hoạt động kinh doanh = Lợi nhuận gộp + Doanh thu TC – Chi phí TC – Chi phí BH, QLDN

Hoạt động khác

Những gì không nằm trong hoạt động kinh doanh chính và hoạt động tài chính thì sẽ nằm hết ở đây. Thông thường, hoạt động này chiếm tỷ trọng rất nhỏ trong cơ cấu kinh doanh của doanh nghiệp.

  • Thu nhập khác: có nguồn từ lãi thanh lý, nhượng bán tài sản hay được bồi thường hợp đồng…
  • Chi phí khác: Trái ngược với thu nhập khác, chi phí khác sẽ có nguồn từ lỗ thanh lý, nhượng bán tài sản, phải bồi thường vi phạm hợp đồng…
  • Lợi nhuận khác = Thu nhập khác – Chi phí khác

Lợi nhuận

Tổng hợp lợi nhuận từ những nguồn trên, chúng ta sẽ có được Lợi nhuận trước thuế:

Lợi nhuận trước thuế = Lợi nhuận thuần từ hoạt động kinh doanh + Lợi nhuận khác

(trừ) khoản Thuế thu nhập doanh nghiệp (TNDN) nộp cho nhà nước, ta sẽ được Lợi nhuận sau thuế.

Lợi nhuận sau thuế = Lợi nhuận trước thuế – Thuế TNDN

Đây là khoản lợi nhuận thuộc sở hữu của doanh nghiệp và cổ đông.

Cách đọc Báo cáo kết quả hoạt động kinh doanh

Cách thức thực hiện sẽ tương tự như việc bạn đọc Bảng cân đối kế toán.

Tuy nhiên, trước khi bắt đầu, bạn nên nhóm riêng doanh thu, chi phí để có thể theo dõi sự biến động dễ dàng hơn.

  • B1: Tách riêng doanh thu và chi phí.
  • B2: Tính toán tỷ trọng của từng doanh thu trong Tổng doanh thu, tỷ trọng từng chi phí trong Tổng chi phí, và sự thay đổi của chúng so với cùng kỳ.
  • B3: Quan sát sự thay đổi.

Tiếp tục với ví dụ của chúng ta.

Ví dụ

Báo cáo tài chính Báo cáo KQKD

Việc phân loại giúp chúng ta dễ theo dõi và quan sát sự thay đổi của doanh thu và chi phí. Cụ thể năm 2019:

  • Doanh thu từ hoạt động kinh doanh cốt lõi của NT2 (chiếm 98.9% tổng doanh thu), gần như thay đổi (giảm -0.2%) so với năm 2018.
  • Giá vốn hàng bán tăng nhẹ (+0.4%) và tỷ trọng trong tổng chi phí tăng từ 95,7% lên 96.2%. Điều này khiến cho Lợi nhuận gộp 2019 của NT2 giảm -4.0% so với cùng kỳ.
  • Chi phí tài chính, chi phí bán hàng, QLDN giảm. Đây là dấu hiệu tích cực, khi NT2 đang tiết giảm được chi phí.

Như vậy, tổng doanh thu giảm -0.4%, lớn hơn mức giảm của tổng chi phí (giảm -0.1%) đã khiến LNTT của NT2 giảm -3.2% so với cùng kỳ, đạt 797 tỷ đồng.

Và sau khi trừ thuế TNDN, số Lợi nhuận sau thuế của NT2 còn 754 tỷ đồng, giảm -3.6% so với 2018.

Như vậy, bạn sẽ cần phải tìm hiểu:

  • Doanh thu năm 2019 ổn định so với 2018 là tốt hay xấu? Doanh nghiệp có thể tăng trưởng Doanh thu trong tương lai hay không?
  • Yếu tố sản xuất đầu vào của NT2 là gì? Trong đó, yếu tố nào ảnh hưởng lớn tới giá vốn của NT2?

Những vấn đề này sẽ được giải đáp trong các bước tiếp theo của bài viết.

Tips:

Bạn có thể tìm hiểu thêm: Bật mí bí kíp đọc và phân tích báo cáo tài chính của Warren Buffett.

Bước #4: Đọc hiểu Báo cáo lưu chuyển tiền tệ

“Để kiếm tiền chúng ta phải chi tiền”

Báo cáo Lưu chuyển tiền tệ (LCTT) cho biết doanh nghiệp thực sự kiếm được bao nhiêu tiền và tiêu bao nhiêu tiền trong khoảng thời gian nhất định.

Vì sao Dòng tiền lại quan trọng?

Thực tế, khá nhiều nhà đầu tư xem nhẹ, thậm chí là bỏ qua báo cáo LCTT khi đọc BCTC.

Đừng làm như vậy!

Bởi vì:

Nếu bỏ qua bước này, bạn rất dễ bị qua mặt bởi các báo cáo có lợi nhuận tốt đẹp mà không hiểu được tính bền vững của lợi nhuận này.

Ở Báo cáo KQKD, doanh thu và lợi nhuận sẽ được doanh nghiệp ghi nhập ngay khi bán hàng, kể cả chưa nhận được tiền từ khách hàng. Thực tế, khách hàng sẽ thanh toán cho doanh nghiệp vào 1 thời điểm nào đó, có thể vài tháng, vài năm hoặc không bao giờ.

Tương tự, doanh nghiệp mua hàng từ nhà cung cấp A, mặc dù chưa thanh toán hết tiền nhưng trong kho đã có hàng, hoặc thậm chí là đã được đem bán.

Như vậy, báo cáo lưu chuyển tiền tệ ghi lại dòng tiền vận động trong doanh nghiệp như thế nào?

Cách đọc Báo cáo lưu chuyển tiền tệ

Báo cáo lưu chuyển tiền tệ đã được trình bày thành 3 phần tương ứng với 3 dòng tiền: Dòng tiền từ hoạt động kinh doanh, Dòng tiền từ hoạt động đầu tư, và Dòng tiền từ hoạt động tài chính.

  • Dòng tiền từ hoạt động kinh doanh: là dòng tiền phát sinh trong quá trình thanh toán cho nhà cung cấp, khách hàng, cho người lao động, chi trả lãi vay, và nộp các khoản thuế cho nhà nước… Đây là lượng tiền mặt mà bản thân doanh nghiệp làm ra, chứ không phải từ việc huy động thêm vốn đầu tư hay vay nợ.
  • Dòng tiền từ hoạt động đầu tư: bao gồm dòng tiền vào và dòng tiền ra có liên quan đến hoạt động đầu tư, mua sắm, thanh lý… tài sản cố định và các tài sản dài hạn khác.
  • Dòng tiền từ hoạt động tài chính sẽ liên quan đến việc tăng/giảm vốn chủ sở hữu (nhận vốn góp mới, thu từ phát hành cổ phiếu, trả cổ tức cho cổ đông…) và vay nợ (chi trả nợ gốc vay, hay vay nợ mới nhận được…)

Vậy nên, bạn chỉ cần xem xét lần lượt từng dòng tiền là được.

Dòng tiền vào, dòng tiền ra được thể hiện như thế nào trên Báo cáo lưu chuyển tiền tệ?

  • Trên báo cáo LCTT, dòng tiền ra sẽ là 1 con số âm, đi kèm với các từ ngữ như “tiền chi để …”, “… đã trả”.

Báo cáo tài chính - Dòng tiền vào - ra

  • Trong khi đó, dòng tiền vào sẽ được thể hiện bởi các từ ngữ như “tiền thu từ…”, “… nhận được” và về mặt con số sẽ là số dương.

Ví dụ

Tiếp tục với BCTC 2019 của NT2.

Đọc Lưu chuyển tiền từ hoạt động kinh doanh

Cơ sở bắt đầu là từ “Lợi nhuận trước thuế (01)” với số tiền 797 tỷ đồng, và điều chỉnh cho những khoản mục không làm phát sinh dòng tiền (từ mục 02 đến 07). Bao gồm:

Báo cáo tài chính - LCTT - Kinh doanh

  • Mục “Khấu hao TSCĐ và BĐS đầu tư (02)”: Số tiền mua sắm TSCĐ thực chất đã chi ra từ lâu. Trong quá trình sử dụng, tài sản đó được trích khấu hao hàng năm. Như vậy, chi phí khấu hao là có, nhưng không có tiền chảy ra. Do đó, được cộng bổ sung (add-back) vào Lợi nhuận trước thuế.
  • Các khoản dự phòng (03)” là chi phí dự phòng được doanh nghiệp trích lập nhưng thực tế là không chi.
  • Lỗ/(Lãi) chênh lệch tỷ giá… (04)” xuất phát từ việc tỷ giá đồng ngoại tệ thay đổi.
  • “Chi phí lãi vay (06)”: Chi phí lãi vay là dòng tiền ra. Tuy nhiên đã được trừ khi tính lợi nhuận (thể hiện ở chi phí tài chính trên Báo cáo KQKD), nên sẽ được cộng trở lại.

Cộng “Lợi nhuận trước thuế (01)” với “Các khoản điều chỉnh (từ 02 đến 07)”, ta được “Lợi nhuận từ hoạt động kinh doanh trước thay đổi vốn lưu động (08)”.

Cần quan tâm điều gì?

Bạn hãy chú ý khoản mục chiếm tỷ trọng lớn là “Khấu hao TSCĐ…”.

Khoản mục này thể hiện doanh nghiệp mất bao nhiêu tiền để duy trì hoạt động hàng năm.

LNTT năm 2019 của NT2 hơn 797 tỷ đồng, nhưng mất tới 690 tỷ đồng cho khấu hao, tương ứng 86.6%. Đây là con số khá lớn.

Hãy để ý!

Vậy khi tài sản khấu hao hết nhưng vẫn được sử dụng, nó sẽ làm tăng lợi nhuận thực sự cho NT2 (vì không phải khấu trừ khấu hao nữa).

Các mục từ 09 đến 17 thì khá dễ hiểu. Đây là những khoản tiền thực tế chi ra, thu vào của doanh nghiệp trong năm.

Lấy “Lợi nhuận sau điều chỉnh (08)” cộng dồn cho các mục từ 09 đến 17, ta sẽ ra “Lưu chuyển tiền thuần từ hoạt động kinh doanh (20)” của NT2, đạt 1,917 tỷ đồng trong năm 2019.

Đọc Lưu chuyển tiền từ hoạt động đầu tư

  • Trong kỳ, NT2 chi khoảng 5 tỷ đồng để mua sắm, bổ sung TSCĐ và tài sản dài hạn khác, chiếm 0,6% LNTT.

Đối với NT2, hay các nhà máy điện khác nói chung, điều này là hợp lý! Vì họ chỉ đầu tư TSCĐ ban đầu lớn, và ít phát sinh hoạt động đầu tư sau này.

Trong khi đó, một doanh nghiệp đang trong quá trình đầu tư tài sản thì tỷ trọng này sẽ khá lớn.

Báo cáo tài chính - LCTT - Đầu tư

  • Ở đây, bạn cũng cần chú ý, 200 tỷ – số tiền được chi ra để cho vay.

Cộng dồn các khoản mục, ta được “Lưu chuyển tiền thuần từ hoạt động đầu tư (30)” thể hiện sự chênh lệch giữa dòng tiền ra và dòng tiền vào là -187 tỷ đồng, mà chủ yếu là do khoản 200 tỷ bất thường gây ra.

Đọc Lưu chuyển tiền từ hoạt động tài chính

Mục 31 là khoản tiền thu từ phát hành cổ phiếu. Mục 34 là khoản tiền chi trả phần nợ gốc của khoản vay. Và mục 36 là dòng tiền chi trả cổ tức cho cổ đông.

Báo cáo tài chính - LCTT - Tài chính

Có thể thấy, NT2 hiện không có khoản vay mới nào trong năm 2019.

Bên cạnh đó, doanh nghiệp rất chủ động trong việc trả nợ vay hàng năm. Trong năm 2019, NT2 chi khoảng 1,085 tỷ để thanh toán nợ gốc. Điều này giúp làm giảm tỷ trọng và giá trị của khoản mục Vay dài hạn trên bảng cân đối.

Việc giảm nợ vay là một tín hiệu tốt. Tình hình tài chính của doanh nghiệp đang dần được cải thiện. Rủi ro thanh toán cũng nhờ thế mà giảm.

Cộng các khoản mục từ 31 đến 36 ta được “Lưu chuyển tiền thuần từ hoạt động tài chính (40)“.

Cộng ba mục Lưu chuyển tiền thuần từ hoạt động kinh doanh, từ đầu tư và từ hoạt động tài chính, ta thu được “Lưu chuyển tiền thuần trong năm (50)” là -1.344 tỷ đồng.

Tại thời điểm đầu năm 2019, NT2 đang có 65 tỷ đồng tiền và tương đương tiền. Và, cuối năm số tiền này đã tăng lên 451 tỷ đồng.

Cần lưu ý gì khi đọc Báo cáo lưu chuyển tiền tệ?

Có 3 vấn đề bạn cần lưu ý:

  • Thứ nhất: Trong 3 nhóm, thì nhóm 2 và 3 có bản chất là tăng ở kỳ hiện tại, giảm ở kỳ tương lai, hoặc ngược lại.

Doanh nghiệp đi vay 10 tỷ thì trong tương lai sẽ phải có khoản trả lại 10 tỷ. Đã có mua mới tài sản thì ắt phải có thanh lý tài sản…

  • Thứ hai: Trọng tâm nghiên cứu là Lưu chuyển tiền tệ từ hoạt động kinh doanh. Vì nó thể hiện khả năng tạo ra tiền thực tế của doanh nghiệp.

Lưu chuyển tiền thuần từ hoạt động kinh doanh năm 2019 là 1,917 tỷ đồng, đây không phải là khoản lợi nhuận thực của NT2 mà bao gồm cả các khoản phải thu, phải trả…

Tuy nhiên, nếu đều đặn hàng kỳ, dòng tiền này của NT2 luôn mang số dương, có nghĩa là vẫn có dòng tiền đổ vào.

Đó là điều tốt.

Còn nếu nhiều kỳ liên tiếp, dòng tiền hoạt động mang dấu âm, có nghĩa là dòng tiền chảy ra. Doanh nghiệp sẽ phải đi vay tiền để tạo dòng tiền bù đắp.

Tiền và tương đương tiền cuối kỳ vẫn dương, nhưng thực tế lại đang dựa trên những khoản nợ vay.

  • Thứ ba: Tiền và các khoản tương đương tiền cuối kỳ có thể giảm so với kỳ trước (ví dụ năm 2018). Đây chưa hẳn là điều xấu, vì doanh nghiệp đã trả các khoản vay của mình trước đó.

Tips: Nhận biết tình hình tài chính lành mạnh của doanh nghiệp thông qua dòng tiền chi trả cổ tức

Một trong những dấu hiệu thể hiện tình hình tài chính lành mạnh của doanh nghiệp chính là: dòng tiền trả cổ tức đều đặn trong dài hạn.

Ngoại trừ những doanh nghiệp đang trong thời kỳ tăng trưởng nhanh có thể không trả cổ tức. Còn trong các trường hợp khác, việc kinh doanh có lãi cần đi kèm với một chính sách chi trả cổ tức bằng tiền cho cổ đông.

Việc doanh nghiệp chi trả cổ tức bằng tiền ổn định, đều đặn hàng năm là dấu hiệu quan trọng để chứng tỏ sự lành mạnh về dòng tiền và lợi nhuận mà doanh nghiệp công bố là thực chất.

Bạn có thể tìm hiểu thêm: 7 chỉ số dòng tiền mà mọi nhà đầu tư cần phải biết nếu không muốn suốt ngày thua lỗ

Bước #5: Đọc hiểu Thuyết minh báo cáo tài chính

Thuyết minh BCTC cung cấp cho bạn thông tin chi tiết các thông tin số liệu đã trình bày ở các Bảng CĐKT, Báo cáo KQKD, Báo cáo LCTT và các thông tin cần thiết khác theo chuẩn mực kế toán cụ thể.

Thuyết minh BCTC sẽ bao gồm những nội dung:

  • Đặc điểm hoạt động của doanh nghiệp;
  • Kỳ kế toán và đơn vị tiền tệ sử dụng trong kế toán;
  • Chuẩn mực kế toán và chế độ kế toán áp dụng;
  • Các chính sách kế toán áp dụng;
  • Thông tin bổ sung cho các khoản mục trên Bảng cân đối kế toán;
  • Thông tin bổ sung cho các khoản mục trên Báo cáo KQKD;
  • Thông tin bổ sung cho các khoản mục trên Lưu chuyển tiền tệ.

Cách đọc Thuyết minh báo cáo tài chính

Chúng ta sẽ chia Thuyết minh BCTC ra thành 2 phần:

Phần 1: Tìm hiểu về về doanh nghiệp

Bao gồm: đặc điểm hoạt động của doanh nghiệp, kỳ kế toán, các chuẩn mực và chính sách kế toán mà doanh nghiệp áp dụng.

Ở phần này, bạn sẽ phải trả lời được những câu hỏi sau:

  • Ngành nghề hoạt động của doanh nghiệp là gì?

Bạn phải hiểu doanh nghiệp mà mình đang tìm hiểu đang hoạt động trong ngành nghề gì? Vì mỗi ngành nghề khác nhau, thì các con số trên BCTC sẽ có ý nghĩa khác nhau.

Ví dụ: Doanh nghiệp sản xuất sẽ phải đầu tư nhà xưởng, máy móc,… thì tài sản cố định sẽ lớn.

Trong khi, đối với một doanh nghiệp bán lẻ thì các khoản phải thu sẽ ít, và hàng tồn kho có thể cao.

  • Doanh nghiệp hoạt động từ bao giờ? Việc này giúp bạn có thể hình dung được doanh nghiệp đang ở giai đoạn đầu, giữa hay cuối chu trình phát triển.
  • Các chính sách kế toán, chuẩn mực kế toán doanh nghiệp đang áp dụng ra sao?

Những thông tin này, bạn hoàn toàn có thể tìm thấy ở đoạn đầu của Thuyết minh BCTC.

Phần 2: Thuyết minh về các khoản mục trên BCTC

Ở các bước #2, 3 và 4 phía trên, chúng ta đã note lại những khoản mục cần lưu ý, có sự thay đổi lớn so với cùng kỳ.

Giờ là lúc bạn đi đến phần thuyết minh của những khoản mục đó để tìm hiểu lý do.

Bạn có thể kết hợp đọc song song Thuyết minh BCTC khi bạn đang xem xét Bảng cân đối kế toán và Báo cáo KQKD.

Ví dụ

Chúng ta sẽ đi vào từng phần…

Tìm hiểu về doanh nghiệp

Báo cáo tài chính - Thuyết minh

  • Hoạt động chính của NT2 là vận hành các công trình điện, mà cụ thể ở đây là nhà máy nhiệt điện khí Nhơn Trạch 2 – một nhà máy sản xuất điện.
  • NT2 thành lập từ năm 2007. Doanh nghiệp đã hoạt động được 13 năm.

Thông thường, 25 năm là khoảng thời gian vận hành trung bình của một nhà máy nhiệt điện khí. Như vậy, NT2 đã hoạt động khoảng 1/2 vòng đời của nhà máy.

  • BCTC của NT2 được lập đúng theo chuẩn mực và các nguyên tắc kế toán của Việt Nam.
  • Năm tài chính của NT2 là từ ngày 01/01 đến 31/12, tương đương với 1 năm dương lịch.

Bạn cần lưu ý vấn đề này, vì có 1 số BCTC được lập theo chu kỳ kinh doanh của ngành.

Ví dụ như kỳ báo cáo của Tập đoàn Hoa Sen (HSG) sẽ từ 01/10 năm trước đến 30/9 năm nay.

Khi đó, bạn sẽ không thể so sánh số liệu của HSG với một doanh nghiệp có kỳ báo cáo từ 01/01 đến 31/12 được.

Tiếp đến, bạn sẽ đọc các nguyên tắc hay chính sách kế toán được NT2 áp dụng trong việc lập BCTC để biết được các con số được ghi nhận như thế nào?

Bây giờ, chúng ta sẽ chuyển tiếp sang Đọc thuyết minh các khoản mục trên BCTC.

Thuyết minh Bảng cân đối kế toán

Những vấn đề chúng ta cần làm rõ ở Bảng cân đối kế toán là:

  • Tiền và các khoản tương đương tiền
  • Các khoản phải thu ngắn hạn
  • Tài sản cố định
  • Phải trả người bán ngắn hạn
  • Vay ngắn hạn và Vay dài hạn
  • Chi phí phải trả ngắn hạn
  • Vốn góp chủ sở hữu
  • Lợi nhuận sau thuế chưa phân phối

Hãy đi vào từng mục:

a. Tiền và các khoản tương đương tiền:

Tại ngày 31/12/2018, Tiền và tương đương tiền của NT2 là 65 tỷ (chiếm 0.7% trên tổng tài sản); thì sang đến 31/12/2019, tỷ lệ này đã tăng lên 6.0% (tương đương mức tăng 592.6%), đạt 451 tỷ đồng.

Mức tăng khá mạnh!

Báo cáo tài chính - Tiền

Ở đây, bạn sẽ thấy, khoản mục Đầu tư tài chính ngắn hạn của NT2 có 1 khoản 200 tỷ, chiếm 2.7% tổng tài sản. Số tiền này được NT2 giải thích là đang gửi tiết kiệm có kỳ hạn tại ngân hàng.

Điều này cũng giúp lý giải vì sao ở Báo cáo LCTT có 1 khoản chi 200 tỷ cho hoạt động đầu tư. Bạn còn nhớ chứ!

Như vậy, lượng tiền mặt của doanh nghiệp khá dồi dào (>650 tỷ đồng).

NT2 biết sử dụng khoản tiền nhàn rỗi gửi tiết kiệm, tăng nguồn thu cho doanh nghiệp.

b. Các khoản phải thu:

Tương tự, tại 31/12/2018, các khoản phải thu chiếm 28.5% tổng tài sản thì tại ngày 31/12/2019, tỷ lệ này giảm còn 19.3% (tương ứng giảm -42.1% về mặt giá trị).

Hãy cùng tìm hiểu!

Báo cáo tài chính - Phải thu

Sự thay đổi này chủ yếu đến từ Phải thu ngắn hạn của khách hàng.

Cụ thể là từ khách hàng chính của NT2 là Công ty Mua bán điện (EPTC).

Tất nhiên, NT2 vận hành nhà máy nhiệt điện, nên lượng điện sản xuất ra sẽ được bán cho EPTC.

Dư nợ tại thời điểm 31/12/2019 còn 1,359 tỷ, giảm so với mức 2,418 tỷ đồng. Chứng tỏ NT2 đã thu được tiền về. Đây là điểm tích cực, vì doanh nghiệp không còn bị khách hàng chiếm dụng vốn.

c. Tài sản cố định:

Chiếm tỷ trọng khá cao trong cơ cấu tài sản của NT2 (64.5% cuối năm 2019), tài sản cố định lại đang giảm về mặt giá trị, từ 6.934 tỷ xuống còn 6.247 tỷ đồng.

Nguyên nhân đến từ đâu?

Báo cáo tài chính - TSCĐ

Bạn có thể thấy:

Nguyên giá tài sản không có sự biến động quá lớn, gần như là không đổi.

Báo cáo tài chính - Thuyết minh TSCĐ

Việc giảm giá trị TSCĐ đến từ việc trích khấu hao.

Đây là đặc trưng của doanh nghiệp ngành điện là chỉ phát sinh chi phí đầu tư ban đầu lớn và ít phát sinh chi phí hoạt động đầu tư TSCĐ.

Bạn cũng dễ dàng thấy được điều đó. Số tiền chi cho hoạt động đầu tư TSCĐ, tài sản dài hạn ở LCTT (phần Dòng tiền cho đầu tư) của NT2 là rất ít.

d. Phải trả nhà cung cấp:

Khoản mục này giảm cả về giá trị lẫn tỷ trọng trong cơ cấu nguồn vốn của NT2. Việc giảm các khoản nợ nhà cung cấp cũng giúp cho rủi ro thanh toán của NT2 giảm đi.

Bạn cũng nên tìm hiểu thông tin về các nhà cung cấp lớn của doanh nghiệp. Vì họ là nhà cung cấp yếu tố đầu vào cho NT2, nên nếu việc cung ứng bị gián đoạn có thể sẽ tác động đến NT2.

Những thông tin này bạn hoàn toàn có thể tìm kiếm trên internet.

Báo cáo tài chính - Nhà cung cấp

Chúng ta thấy rằng, 2 nhà cung cấp lớn của NT2 là:

  • TCT Khí Việt Nam (GAS). Hiện GAS là nhà phân phối duy nhất khí thiên nhiên ở Việt Nam – loại nguyên liệu chính để chạy máy phát điện của NT2.

Do đó, nếu việc cung ứng khí của GAS gặp gián đoạn thì chắc chắn sẽ ảnh hưởng lớn đến hoạt động sản xuất của NT2. Bởi vì sẽ không có nhà cung ứng thay thế nào khác.

Như vậy, bên cạnh việc tìm hiểu về NT2, bạn cũng cần phải theo dõi tình hình hoạt động của TCT Khí Việt Nam.

  • Nhà cung cấp lớn thứ 2 là CTCP Dịch vụ kỹ thuật Dầu khí Việt Nam. Doanh nghiệp này thực hiện công tác bảo dưỡng tua-bin khí cho NT2.
e. Chi phí phải trả:

Từ mục thuyết minh, ta thấy Chi phí nhiên liệu (chạy máy phát điện) và Chi phí bảo trì (phân bổ chi phí từ chi phí đại tu – trung tu nhà máy điện) là 2 chi phí chiếm tỷ trọng lớn. Và đã được NT2 thuyết minh đầy đủ.

f. Vay ngắn hạn và dài hạn:

Như ở phần LCTT, chúng ta đã biết rằng, NT2 không còn đi vay các khoản nợ mới. Thay vào đó là các khoản tiền được chi ra để thanh toán nợ vay.

Nợ vay ngắn hạn của NT2 thực chất là nợ vay dài hạn đến hạn phải trả.

Báo cáo tài chính - Nợ vay

Đây là điểm rất đáng khen cho NT2.

Giảm nợ vay sẽ giúp cơ cấu tài chính của NT2 lành mạnh hơn, giảm thiểu rủi ro tài chính.

g. Vốn chủ sở hữu:

Báo cáo tài chính - Vốn chủ sở hữu

  • Năm 2019, không có hoạt động phát hành tăng vốn (như năm 2017 – bạn có thể tự check bctc 2017 của NT2)
  • Lợi nhuận trong năm đạt hơn 754 tỷ
  • Và NT2 đã chi trả 288 tỷ tiền cổ tức cho cổ đông.

Như vậy, chúng ta đã tìm ra lý do cho sự thay đổi trên Bảng cân đối kế toán.

Tiếp tục với Báo cáo KQKD

Thuyết minh Báo cáo kết quả hoạt động kinh doanh

a. Doanh thu và chi phí sản xuất:

Thuyết minh BCTC sẽ cung cấp cho chúng ta thông tin về doanh thu theo bộ phận. Giúp ta thấy được rõ ràng hơn về tỷ lệ lợi nhuận đóng góp của từng bộ phận.

Ở đây, hoạt động của NT2 duy nhất là sản xuất và bán điện.

Báo cáo tài chính - Doanh thu - Giá vốn

Về yếu tố chi phí sản xuất, Chi phí nguyên vật liệu chiếm tỷ trọng lớn (79.9%) trong tổng chi phí sản xuất của doanh nghiệp.

NT2 sử dụng khí thiên nhiên để chạy máy phát điện.

Do vậy, bạn sẽ cần theo dõi sự biến động của giá khí thiên nhiên. Thông thường, chúng ta sẽ theo dõi gián tiếp thông qua Giá dầu thô thế giới, vì chúng biến động cùng chiều với nhau.

Các yếu tố chi phí khác thì không có sự biến động nào quá lớn. Như vậy, ngoài giá nguyên vật liệu là yếu tố mà NT2 không thể tác động tới, thì các chi phí khác đang được doanh nghiệp cải thiện, tối ưu.

Kết luận:

Như vậy tôi đã hướng dẫn bạn cách đọc 1 bộ Báo cáo tài chính hoàn chỉnh.

Tuy nhiên, chúng ta mới thấy được 1 phần bức tranh của doanh nghiệp.

Các con số vẫn đang đứng độc lập, chưa thể hiện rõ mối quan hệ với nhau, hay thậm chí là mối quan hệ giữa các báo cáo với nhau.

Để làm được điều này, bạn cần phải biết tính toán các chỉ số tài chính và phân tích chúng.

********

PHÂN TÍCH BÁO CÁO TÀI CHÍNH

Phân tích chỉ số tài chính là một phần không thể thiếu khi bạn đọc BCTC. Các chỉ số sẽ giúp bạn:

  • Đánh giá xem hoạt động của doanh nghiệp đang tăng trưởng hay suy giảm, sức khỏe tài chính ra sao…
  • Ngoài ra, đây còn là công cụ giúp dự báo tình hình tài chính của doanh nghiệp trong tương lai.

Lưu ý gì khi tính toán các chỉ số tài chính

Để đánh giá được tình hình doanh nghiệp qua các chỉ số tài chính, bạn cần:

  • So sánh với kỳ trước: để đánh giá xu hướng phát triển của doanh nghiệp theo chiều ngang.
  • So sánh với doanh nghiệp cùng ngành, hoặc với trung bình ngành: để đánh giá điểm mạnh – yếu của doanh nghiệp.
  • Khi tính toán các chỉ số, bạn cần quan tâm xem con số đó thể hiện tính thời điểm, hay thời kỳ để có thể nhận xét đúng nhất về tình hình doanh nghiệp.

Cụ thể: Những chỉ số tài chính được tính từ Bảng CĐKT sẽ là những con số mang tính thời điểm; còn ở trên Báo cáo KQKD sẽ mang yếu tố thời kỳ.

Ở bài viết này, tôi sẽ giới thiệu cho bạn các chỉ số tài chính tiêu biểu, thường được sử dụng trong việc phân tích, đánh giá doanh nghiệp.

Bước #6: Phân tích khả năng thanh toán

Doanh nghiệp cần phải duy trì được một lượng vốn luân chuyển hợp lý để đáp ứng kịp các khoản nợ ngắn hạn, duy trì hàng tồn kho để đảm bảo hoạt động sản xuất, kinh doanh.

Doanh nghiệp chỉ có thể tồn tại nếu đáp ứng được các nghĩa vụ thanh toán khi đến hạn.

Để đánh giá khả năng thanh toán của doanh nghiệp, chúng ta sử dụng các hệ số thanh toán để đánh giá khả năng thanh toán của doanh nghiệp.

Hệ số khả năng thanh toán hiện hành

Hệ số thể hiện khả năng chuyển đổi tài sản ngắn hạn thành tiền để thanh toán cho các khoản nợ ngắn hạn.

Thông thường, hệ số này thấp (đặc biệt là khi < 1): Doanh nghiệp sẽ gặp khó khăn trong việc thanh toán các khoản nợ. Đây là dấu hiệu báo hiệu rủi ro về thanh toán mà doanh nghiệp có thể gặp phải.

Hệ số này cao cho thấy doanh nghiệp có khả năng chi trả cho các khoản nợ đến hạn.

Tuy vậy, một số trường hợp, hệ số này quá cao chưa chắc đã tốt. Có thể doanh nghiệp hiện đang sử dụng chưa hiệu quả tài sản của mình.

Muốn đánh giá chính xác hơn, bạn sẽ cần xem xét thêm điều kiện kinh doanh, tình hình hoạt động thực tế của doanh nghiệp.

Hệ số khả năng thanh toán lãi vay

Nợ của doanh nghiệp sẽ gồm: nợ vay và các khoản phải trả (NCC, người lao động…)

Trong đó, sử dụng nợ vay thì doanh nghiệp phải trả chi phí sử dụng – lãi vay.

Do vậy, bạn cần đánh giá xem liệu có rủi ro nào trong thanh toán lãi vay của doanh nghiệp hay không?

Một doanh nghiệp vay nợ nhiều, nhưng kinh doanh không hiệu quả, mức sinh lời của đồng vốn thấp (hoặc thua lỗ) thì khó có thể đảm bảo thanh toán tiền lãi vay đúng hạn.

Hệ số vòng quay các khoản phải thu

Như ở trên, doanh nghiệp chiếm dụng vốn từ NCC, từ người lao động,…

… thì ở chiếu ngược lại, doanh nghiệp cũng bị khách hàng chiếm dụng vốn, hình thành nên các khoản phải thu.

Nếu doanh nghiệp cứ liên tục cho khách hàng mua chịu, mà không thu tiền, thì không sớm thì muộn, sẽ không có đủ tiền để phục vụ cho sản xuất, kinh doanh.

Như tôi đã đề cập với bạn ở Báo cáo LCTT, tầm quan trọng của dòng tiền trong doanh nghiệp ra sao?

Và để đánh giá việc tốc độ thu hồi công nợ (các khoản phải thu) của doanh nghiệp, chúng ta sử dụng Hệ số vòng quay các khoản phải thu:

Và lấy 360 ngày (1 năm) chia cho vòng quay các khoản phải thu, ta được:

Kỳ thu tiền bình quân cho chúng ta biết: Sau bao lâu, doanh nghiệp sẽ thu được tiền bán hàng?

Hệ số này phụ thuộc vào chính sách bán chịu, chính sách thanh toán của doanh nghiệp.

Hệ số vòng quay hàng tồn kho

Hệ số này phản ánh việc: 1 đồng vốn hàng tồn kho có thể quay vòng bao nhiêu lần trong một kỳ?

Thông thường, hệ số vòng quay hàng tồn kho càng lớn có nghĩa là hàng tồn kho ít, sản phẩm của doanh nghiệp được tiêu thụ nhanh, vốn không bị ứ đọng ở hàng tồn kho.

Tuy nhiên, để có thể kết luận hệ số vòng quay hàng tồn kho cao là xấu hay tốt. Bạn cần phải xem xét đến đặc điểm ngành nghề kinh doanh, cũng như chính sách hàng tồn kho của doanh nghiệp.

Ví dụ, một doanh nghiệp sản xuất nhận thấy giá nguyên liệu đang giảm. Họ sẽ đẩy mạnh việc dự trữ nguyên vật liệu. Khi đó, hàng tồn kho dự trữ sẽ tăng lên, làm cho vòng quay hàng tồn kho giảm xuống.

Việc mua được nguyên liệu với giá rẻ, sẽ khiến cho giá thành sản xuất giảm xuống, từ đó giúp gia tăng lợi nhuận.

Tương tự, bạn cũng sẽ tính được:

Ví dụ

Chúng ta sẽ tính toán các chỉ số về khả năng thanh toán của NT2 từ 3 – 5 năm để có thể nhìn thấy xu hướng.

  • Hệ số thanh toán hiện hành: Mặc dù 3 năm gần đây, hệ số này có xu hướng giảm. Tuy nhiên, vẫn xấp xỉ1, nên khả năng thanh toán của NT2 không có gì phải lo lắng.
  • Chi phí lãi vay của NT2 cũng được đảm bảo khá chắc chắn, khi mà hệ số khả năng thanh toán lãi vay được giữ ở mức cao. Và sắp tới, NT2 cũng sẽ trả hết nợ vay.
  • Kỳ thu tiền bình quân của NT2 giảm do không còn bị EVN chiếm dụng vốn nữa.
  • Vòng quay hàng tồn kho ở đây không có nhiều ý nghĩa đối với NT2. Bởi vì, hàng tồn kho của doanh nghiệp là dầu DO – nguyên liệu dự phòng (thuyết minh BCTC) và công cụ dụng cụ phục vụ cho hoạt động sửa chữa, đại tu nhà máy.

Bước #7: Phân tích đòn bẩy tài chính

Chúng ta sẽ sử dụng Hệ số nợ để đánh giá.

Hệ số này cho chúng ta thấy được tỷ trọng nợ trong tổng nguồn vốn của doanh nghiệp.

Hệ số nợ của doanh nghiệp bao nhiêu là hợp lý?

Thật khó để đánh giá được tỷ lệ nợ như thế nào là hợp lý với doanh nghiệp. Tỷ lệ này phụ thuộc vào nhiều yếu tố như: hình thức doanh nghiệp, quy mô doanh nghiệp, hay mục đích vay…

Nhưng thông thường…

…Hệ số nợ thấp thể hiện doanh nghiệp có mức độ an toàn cao, rủi ro tài chính thấp.

Ngược lại, doanh nghiệp có hệ số nợ cao sẽ tiềm ẩn nhiều rủi ro.

Tập đoàn Hoa Sen (Mã CK: HSG) là một ví dụ. Hãy xem BCTC Quý 3.2018 của Tập đoàn.

Tính đến quý 3.2018, nợ phải trả của HSG đạt hơn 18.000 tỷ đồng. Hệ số nợ của doanh nghiệp tăng lên gần 0,78.

Sẽ chẳng có gì đáng nói nếu như Hoa Sen làm ăn hiệu quả, lợi nhuận tăng trưởng tăng đương với số nợ vay. Đằng này, vay nợ nhiều, nhưng lợi nhuận của Hoa Sen không tăng mà còn giảm, hàng tồn kho cao và các khoản phải thu ngắn hạn tăng.

Và những yếu tố trên đã dẫn tới, kết quả kinh doanh của Hoa Sen năm sau thấp hơn năm trước, quý sau thấp hơn quý trước.

Bạn còn nhớ Tips: Nhận diện sớm rủi ro tài chính từ Bảng cân đối kế toán mà tôi đã giới thiệu ở Bước #2 của bài viết.

NWC của HSG < 0. Như vậy, HSG đang sử dụng nợ ngắn hạn để tài trợ cho đầu tư dài hạn. Điều này là vô cùng mạo hiểm.

Chưa kể đến, trong số 18.000 tỷ đồng nợ phải trả kia, thì có đến 12.000 tỷ đồng là nợ vay ngắn hạn. Như vậy áp lực về lãi vay của HSG không phải là nhỏ.

Hãy thử tính toán các hệ số khả năng thanh toán!

Liệu bạn có dám đầu tư vào HSG tại thời điểm hiện tại?

  • Tìm hiểu thêm: 6 nhóm chỉ số tài chính (QUAN TRỌNG) cần biết

Bước #8: Phân tích khả năng sinh lời

Doanh nghiệp hoạt động là vì mục tiêu lợi nhuận. Do đó, lợi nhuận sẽ là chỉ tiêu phản ánh hiệu quả của toàn bộ quá trình đầu tư, sản xuất và kinh doanh.

Thông qua phân tích khả năng sinh lời, bạn sẽ đánh giá được hiệu quả hoạt động của doanh nghiệp.

Tỷ suất lợi nhuận sau thuế trên doanh thu

Chỉ số này thể hiện: 1 đồng doanh thu thuần thì doanh nghiệp thu về bao nhiêu đồng lợi nhuận sau thuế? Nó phản ánh hiệu quả trong việc quản lý chi phí của doanh nghiệp.

Doanh nghiệp có tỷ lệ ROS ổn định và cao hơn đối thủ là những doanh nghiệp có lợi thế cạnh tranh lớn, quản trị chi phí tốt. Thậm chí đây còn là những doanh nghiệp hàng đầu trong lĩnh vực kinh doanh đó.

Tỷ suất lợi nhuận này phụ thuộc vào đặc điểm kinh tế kỹ thuật của ngành kinh doanh, chiến lược cạnh tranh của doanh nghiệp.

Tỷ suất lợi nhuận gộp (hay Biên lợi nhuận gộp)

“Từ 1 đồng doanh thu thuần, doanh nghiệp thu được bao nhiêu đồng lợi nhuận gộp” – là ý nghĩa của chỉ số này.

Chỉ số này phản ánh hiệu quả của việc quản lý chi phí sản xuất của doanh nghiệp (NVL, nhân công,..), khả năng tạo ra lợi nhuận cũng như khả năng cạnh tranh của doanh nghiệp trên thị trường.

Doanh nghiệp duy trì một biên lợi nhuận gộp cao, ổn định qua nhiều năm…

…thường là doanh nghiệp có lợi thế cạnh tranh tốt, sản phẩm đáp ứng được nhu cầu thị trường.

Lợi thế cạnh tranh đó có thể là: sản phẩm độc quyền, thương hiệu, chi phí thấp… cũng có thể doanh nghiệp đang tăng trưởng ở một thị trường tiềm năng nhưng lại chưa có nhiều đối thủ cạnh tranh…

Tỷ suất lợi nhuận sau thuế trên tổng tài sản

Hệ số này phản ánh: 1 đồng tài sản tạo ra bao nhiêu đồng LNST? Hay hiệu quả sử dụng tài sản của doanh nghiệp ra sao?

Thông thường, ROA càng cao càng tốt.

Với những doanh nghiệp trong ngành cơ bản như sắt thép, giấy, hóa chất… thì ROA là chỉ tiêu vô cùng quan trọng.

Vì những doanh nghiệp này sử dụng tài sản dài hạn là máy móc, thiết bị… để nâng cao tỷ suất lợi nhuận. ROA cao thể hiện việc doanh nghiệp quản lý hiệu quả chi phí khấu hao, chi phí đầu vào tốt.

Tỷ suất lợi nhuận sau thuế trên vốn chủ sở hữu

Đây là một chỉ tiêu được các nhà đầu tư quan tâm.

Hệ số này thể hiện: mức LNST thu được trên mỗi 1 đồng vốn chủ bỏ ra trong kỳ.

ROE càng cao, thể hiện hiệu quả trong việc sử dụng vốn chủ càng cao.

Chỉ số này phản ánh tổng hợp các khía cạnh về trình độ quản trị tài chính, trình độ quản trị chi phí, trình độ quản trị tài sản, trình độ quản trị nguồn vốn của doanh nghiêp.

Dựa và ROE, bạn cũng có thể đánh giá liệu doanh nghiệp đó có lợi thế cạnh tranh hay không?

Những doanh nghiệp có ROE cao (thường trên 20%) và ổn định trong nhiều năm (kể cả khi thị trường khó khăn) là những doanh nghiệp có lợi thế cạnh tranh bền vững.

Tuy nhiên, ROE cao quá cũng không phải là tốt. Hãy cẩn thận!

Có thể hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp không có gì thay đổi, nhưng doanh nghiệp lại đang mua lại cổ phiếu quỹ hoặc doanh nghiệp này đang tách ra từ công ty mẹ khiến cho vốn cổ phần giảm, khiến ROE tăng.

Thu nhập một cổ phần thường

Chỉ tiêu phản ánh: 1 cổ phần thường trong năm thu được bao nhiêu đồng lợi nhuận sau thuế? Hay còn gọi là chỉ số EPS.

Ví dụ EPS của NT2 năm 2017 đạt 2.768 đồng. Có nghĩa là: cứ mỗi cổ phiếu bạn sở hữu sẽ nhận được 2.768 đồng LNST.

EPS cao phản ánh năng lực kinh doanh của doanh nghiệp mạnh. Doanh nghiệp có tiền để trả cổ tức cho cổ đông nhiều hơn.

Tuy nhiên, không phải cứ cổ phiếu có EPS cao là đáng mua.

Tôi có một ví dụ cho bạn. Hiện cổ phiếu A giá 10.000 đồng có EPS là 1.000 đồng. Cổ phiếu B giá 30.000 đồng, EPS là 1.500 đồng. Khi đó, chúng ta sẽ lựa chọn cổ phếu A, mặc dù EPS của A thấp hơn.

Bởi vì: với 30.000 đồng, bạn có thể mua 3 cổ phiếu A, và mỗi năm lợi nhuận bạn có được là 3.000 đồng. Trong khi đó, nếu lựa chọn B, bạn mua được 1 cổ phiếu B và lợi nhuận mỗi năm chỉ là 1.500 đồng mà thôi.

Ví dụ

Quay trở lại ví dụ về NT2

  • Các chỉ số sinh lời của NT2 có sự tăng/giảm khác nhau trong những năm qua. Như tỷ suất lợi nhuận trên doanh thu hay biên lợi nhuận gộp thì có xu hướng giảm (do giá khí giai đoạn này tăng, khiến chi phí nhiên liệu tăng…);
  • Trong khi đó, tỷ lệ ROA, ROE có sự cải thiện tích cực.
  • Biên lợi nhuận gộp của NT2 > 12%. Như vậy, NT2 hiện đang có lợi thế cạnh tranh nhất định trong ngành.

Tips: Hệ số Dupont

Hệ số Dupont được sử dụng để phân tích mối liên hệ giữa các chỉ số tài chính. Mô hình giúp chúng ta có thể phát hiện ra những nhân tố chính ảnh hưởng đến chỉ tiêu cần phân tích.

Tôi sẽ ví dụ cho bạn mô hình Dupont 5 yếu tố để phân tích chỉ số ROE.

Mo-hinh-Dupont

ROE sẽ phụ thuộc vào 5 yếu tố:

  • Tỷ lệ LNST/LNTT: Hiện doanh nghiệp đang chịu mức thuế suất TNDN là 5%.

Tuy nhiên, đây không phải lợi thế về thuế của NT2. Bởi các doanh nghiệp điện khác cũng nhận được mức thuế suất ưu đãi tương tự.

  • Tỷ lệ LNTT/EBIT: tác động của chi phí lãi vay tới ROE? Ở ví dụ này, tỷ lệ này không có sự biến động nào quá lớn qua các năm.

  • Tỷ lệ EBIT/Dthu thuần hay EBIT margin: đây là nhân tố chính ảnh hưởng đến ROE của NT2. Tỷ lệ này có xu hướng giảm qua từng năm.
  • Tỷ lệ Dthu thuần/TS bquân: thể hiện hiệu quả sử dụng tài sản ngày càng tăng lên.
  • TS bquân/VCSH bquân: 1 công thức khác của đòn bẩy tài chính. Tỷ lệ này có xu hướng giảm. Đây là tín hiệu tốt.

Qua phân tích Dupont, chúng ta thấy được rằng: EBIT margin là yếu tố cần được cải thiện nếu doanh nghiệp muốn tăng tỷ suất sinh lời ROE.

Bước #9: Phân tích dòng tiền

Mục đích của việc phân tích dòng tiền là đánh giá năng lực tài chính, cũng như chất lượng dòng tiền của doanh nghiệp.

Dòng tiền thuần từ hoạt động kinh doanh/Doanh thu thuần

Tỷ lệ này cho chúng ta biết doanh nghiệp nhận được bao nhiêu đồng trên 1 đồng doanh thu thuần?

Mặc dù không có một con số cụ thể để tham chiếu, nhưng rõ ràng…

… Tỷ lệ này càng cao càng tốt.

Bạn nên so sánh với dữ liệu quá khứ để phát hiện ra những sai khác.

Tỷ suất dòng tiền tự do

Tỷ tiêu này phản ánh chất lượng dòng tiền của doanh nghiệp. Dòng tiền tự do phản ánh số tiền sẵn có nhằm sử dụng cho các hoạt động của doanh nghiệp.

Trong đó:

Dòng tiền tự do (Free Cashflow) = Lưu chuyển tiền thuần từ HĐKD – Dòng tiền đầu tư cho TSCĐ.

Chúng ta phải trừ đi Dòng tiền cho hoạt động đầu tư TSCĐ, bởi vì:

Dòng tiền đầu tư TSCĐ được xem như là để duy trì lợi thế cạnh tranh và hiệu quả hoạt động cho doanh nghiệp.

Như vậy, dòng tiền tự do càng lớn, chứng tỏ tình hình tài chính của doanh nghiệp càng tích cực.

Bạn thấy đó, NT2 duy trì được một tỷ lệ dòng tiền thuần từ HĐKD trên Doanh thu thuần khá là cao, >25%. Rất ổn định.

Bên cạnh đó, vì không cần phải đầu tư lớn vào TSCĐ nữa, nên gần như 100% dòng tiền thuần từ HĐKD được doanh nghiệp thoải mái sử dụng. Cụ thể, chúng đã được sử dụng để chi trả nợ vay, trả cổ tức cho cổ đông…

NT2 bắt đầu trả cổ tức từ năm 2015 với tỷ suất khá cao và đều đặn. Đây cũng là một dấu hiệu tốt, thể hiện tình hình tài chính lành mạnh của doanh nghiệp.

Phân tích xu hướng dòng tiền

Để thực hiện phân tích xu hướng dòng tiền…

… Số liệu dòng tiền của từng hoạt động sẽ được cộng dồn theo từng năm.

Mục đích là để loại bỏ sự biến động về dòng tiền tại 1 thời điểm cụ thể,

Ngoài ra, việc quan sát dòng tiền trong 1 giai đoạn dài sẽ giúp bạn xác định được doanh nghiệp đang trong giai đoạn nào của chu kỳ kinh doanh.

Đây là yếu tố quan trọng để bạn đưa ra quyết định có nên tài trợ vốn cho doanh nghiệp trong giai đoạn hiện tại hay không?

Như ở NT2, giai đoạn 2007 – 2011 là giai đoạn đầu tư cho nhà máy, chính vì vậy mà dòng tiền hoạt động đầu tư gia tăng, và dòng tiền hoạt động tài chính cũng tăng tương ứng. Doanh nghiệp đi vay để tài trợ cho dự án.

Tuy nhiên, từ 2011 trở đi, nhà máy bắt đầu đi vào vận hành. Dòng tiền thuần từ HĐKD bắt đầu gia tăng. Hoạt động đầu tư không còn lớn như giai đoạn trước, nên dòng tiền đầu tư giai đoạn này chủ yếu là đi ngang.

Dòng tiền thu từ HĐKD ổn định, giúp NT2 chủ động thanh toán các khoản nợ vay. Điều này giúp cho nợ vay của doanh nghiệp giảm dần qua từng năm. Giúp cải thiện sức khỏe tài chính cho doanh nghiệp.

********

WHAT’S NEXT?

Như vậy, chúng ta đã biết cách đọc BCTC và vận dụng các chỉ số tài chính để phân tích doanh nghiệp.
< br>Hãy luyện tập chăm chỉ.

Nguồn: Tuấn Trần | Govalue

Kinh nghiệm Quản lý nhân viên trẻ

Do đăc thù ngành nghề, phần lớn nhân viên công ty mình đều ở độ tuổi 21-23. Kinh nghiệm không nhiều nhưng cũng xin chia sẻ 1 vài ý mà cá nhân mình nghĩ là hữu ích trong việc quản lý nhân sự trẻ:

1. Làm bạn:
Đừng tỏ ra qúa nghiên túc, đạo mạo. Ăn mặc giống họ, ngồi cùng dãy bàn, ăn uống cùng họ, ...Mình tạo nhiều group trên skype và FB , có group bàn côngg việc dự án, có group chỉ để tán gẫu linh tinh. Duy trì bầu không khí vui vẻ, thỏai mái.

2. Kỷ luật:
Thoải mái sẽ rất dễ dẫn đến vô kỷ luật, 1 điểm yếu cố hữu của người trẻ. Vì vậy, cần "protect" sự thoải mái bằng các quy định bằng văn bản rõ ràng đến từng bộ phận. Đi trễ vẫn bị phạt theo số phút, gửi báo tuần chậm là ăn warning letter. Chăm sóc KH ko chu đáo sẽ bị "nhịn" new lead data trong 1 tháng, sa thải ngay lập tức nếu có biểu hiện gian dối, tiêu cực....

3. Những thứ cơ bản nhất:
Đa số các sinh viên mới ra trường đều không có kỹ năng nền tảng để làm việc. Cần có những guidline document thật sự basic và chi tiết để dẫn dắt họ. Từ cách đặt chữ ký dưới email, các gửi email ra ngoài, cách ăn mặc sao cho chuyên nghiệp, cách làm 1 file excel, ppt ....
Những thức basic nhất đều cần phải đưa vào quy trình training.

4. Cầm tay chỉ việc từng nhân viên:
Bắt buộc phải cầm tay chỉ việc và đào tạo ra những người biết cầm tay chỉ việc. Người trẻ rất dễ nản. Nếu để "tự bơi" sẽ dễ "chết đuối". Nhưng người trẻ cũng rất dễ hứng phấn. Nếu đạt được 1 chút thành công "rô đai" ban đầu thì sẽ "máu chiến" rất kinh. Phải giúp họ rô đai.

5. Mạnh dạn giao quyền cho trưởng nhóm:
Tổ chức công ty theo mô hình lớp học, hay đội bóng. Chọn thằng đá ổn và biết quan tâm anh em làm "đội trưởng" (ưu tiên yếu tố 2 hơn) . Điều cốt lõi, những đội trưởng này cần quán triệt tư tưởng : nhiệm vụ của leader là bảo vệ và thúc đẩy anh em , không phải làm nhà "chỉ đạo", "ra lệnh"... Quan trọng hơn, leader bắt buộc phải có benefit trên năng suất của team mình.

6. Trở thành "tấm gương sáng":
Người trẻ cần nhìn vào 1 ai đó để định hướng cách làm việc của mình. Khác với các DN có nhân sự "cứng" , lãnh đạo có thể chỉ ngồi trên cao hoặc đứng phía sau "thúc đít" team. Ở 1 DN trẻ, lãnh đạo vừa phải làm nhiệm vụ định hướng, vừa phải xông pha ra trận và trình diễn khả năng của mình để "inspire" đội ngũ. Mệt gấp đôi 🙂

7. Tập trung vào tính đội nhóm:
Tôi đã bỏ chính sách thưởng cá nhân xuất sắc nhất và thay vào đó là thưởng cho team đạt / vượt KPI. Việc này khiến mỗi người tự ý thức support đồng đội.
Tính đấu đá, tự mãn của ngừoi trẻ là rất cao. Đừng để nó làm vỡ team.

8. Minh bạch tuyệt đối:
Người trẻ ko có những toan tính lớn. Họ quan tâm đến những thứ thiển cận nhất.
Chúng tôi có internal tool để quản lý hiệu suât đội nhóm. mọi chính sách thưởng phạt đều được công thức hóa và update gần như realtime. Mỗi cá nhân luôn biết mình đã làm được gì và sẽ nhận được gí. Chỉ cần 1 lần "bất minh" , niềm tin của nhân sự vào cty sẽ không còn.

9. Lượng hóa tối đa mọi chỉ tiêu:
Bất cứ việc gì giao xuống nhân viên, đều phải được số hóa đến tận cùng: em phải trả lời mail KH trong vòng 1 tiếng, làm cho anh tài liệu này deadline 17h thứ 5 nộp, plan này phải gửi KH sáng mai , làm được bao nhiêu % cũng phải gửi, k dc chậm trễ ....
Với ngừoi trẻ, tuyệt đối ko được "tùy em"

10. Nói về những thứ bình dị nhất:
Đừng hô hào về vision, IPO, gọi vốn....Người trẻ chẳng hiểu gì đâu. Và họ cũng k quan tâm. Đó là việc của ông chủ. Hãy inspire họ bằng những thứ bình dị nhất, liên quan đến công việc mỗi ngày. Hầu hết mọi người đều mưu cầu 1 cuộc sống bình dị, nhẹ nhàng, hạnh phúc.

11. Khai sáng:
Đây là việc tôi nghĩ là khó nhất. Người trẻ là "vô minh". Đặc biệt với giáo dục VN, đa số sinh viên ra trường đi làm chỉ để mưu sinh, không biết mình muốn gì, tại sao phải làm việc đó, nó có ý nghĩa gì...? Cty ko thể phát triển với 1 đội ngũ "mông lung" như vậy.

Nhiệm vụ nan giải nhất của lãnh đạo là khiến nhân viên tìm ra ý nghĩa cuộc đời trong công việc và duy trì được lửa nhiệt huyết. Muốn khai sáng nhân viên thì nhà quản trị phải khai sáng chính mình trước.

(Au Tran - CEO Revu VN) - Mong nhận nhiều gạch đá.

Anh chị em đã có cho mình Bản thiết kế Văn hóa Doanh nghiệp ?

Tuần vừa rồi, đang ở nhà tìm cách để khôi phục nick fb của tôi (nick chính của tôi bị treo chờ xác minh của FB) thì được Hoàng CEO Getfly CRM gọi điện hẹn lên văn phòng chơi và tiện thể làm quen với một “cao nhân” trong giới CEO. Theo như giới thiệu thì CEO mà Hoàng định giới thiệu là một người trẻ, ham học và giỏi khi đẩy công ty lên quy mô doanh thu 300 – 400 tỷ/ năm trong thời gian ngắn. Thật thú vị, vậy là gác mọi thứ, tôi đến gặp Hoàng và anh bạn CEO trẻ.

Hóa ra anh bạn CEO hẹn gặp chỉ để hỏi Hoàng và tôi xem: Sắp tới cậu định tổ chức 1 hội thảo nội bộ công ty về văn hóa công ty thì làm như kế hoạch cậu dự kiến có được không? Sau khi hỏi xong, nhân lúc vui vẻ, cậu chia sẻ thêm nhiều thứ về văn hóa cậu đã làm:
- Sổ tay phát cho nhân viên
- Tầm nhìn, sứ mệnh
- Các chương trình đào tạo nhân viên
- …

Cuối cùng, cậu hỏi tôi: Anh Cường thấy có góp ý gì không? Đây quả là câu hỏi cân não. Tôi trả lời: Anh có 3 ý sau:
- Về kế hoạch tổ chức hội thảo nội bộ thì anh thấy làm như em ổn và không có góp ý gì.
- Tuy nhiên, sang ý 2: Em xây dựng văn hóa thì nên làm đồng thời nhiều thứ. Ta không chỉ tổ chức đào tạo mà còn xây dựng Hệ thống Quản trị song song để điều chỉnh hành vi cho đúng những gì chúng ta đào tạo.
- Ý thứ 3: Mọi thứ nên gắn kết với nhau và xếp tầng, lớp. Đừng xây theo kiểu xây nhà không có bản thiết kế. Nên có cái nhìn (kiến trúc) tổng thể rồi sau đó đến lúc cần thì xây. Hay chính xác là nên có Bản thiết kế Văn hóa Doanh nghiệp.
Nếu anh bạn CEO công ty có quy mô doanh số 300 – 400 tỷ chưa có một bản thiết kế về Văn hóa cho tổ chức mình thì tôi tin nhiều anh chị em cũng vậy.

Anh chị có muốn một Bản thiết kế Văn hóa doanh nghiệp cho riêng mình?

Xin giới thiệu với tất cả, bức tranh tôi gửi kèm bài viết chính là Bản thiết kế Văn hóa doanh nghiệp mà tôi đã dày công tìm hiểu. Tôi gọi nó là Mô hình văn hóa KC. Mô hình văn hóa này có 7 lớp:
7. Biểu hiện hành vi văn hóa tiêu dùng - khách hàng
6. Biểu hiện hành vi văn hóa nhân viên - tổ chức
5. Hệ thống Quản trị
4. Chiến lược, phong cách lãnh đạo, quan điểm quản trị
3. Sứ mệnh, tầm nhìn, hoài bão, giá trị cạnh tranh lõi
2. Triết lý tổ chức
1. Tính cách tổ chức

Xem rõ hơn tại đây: http://blognhansu.net.vn/2020/08/14/mo-hinh-van-hoa-doanh-nghiep-kc-phien-ban-moi/

Để có một bản thiết kế hoàn hảo cho tổ chức. Đầu tiên, chúng ta cần chốt khái niệm về văn hóa. Với tôi: Văn hóa là tổng thể các giá trị vật chất và tinh thần. Văn hóa doanh nghiệp là tổng thể các giá trị vật chất và tinh thần của doanh nghiệp.

1. Tính cách tổ chức
Từ định nghĩa này, chúng ta bắt đầu đưa những nét đầu tiên làm hồn cho bản thiết kế. Tôi gọi những nét vẽ này là ĐỊNH HÌNH CHO TỔ CHỨC MỘT TÍNH CÁCH (HOẶC THÁI ĐỘ HOẶC TỪ KHÓA). Cách đơn giản nhất để tìm ra tính cách cho tổ chức là trả lời được 4 câu hỏi:
- Hãy liệt kê 3 – 5 tính từ miêu tả về tổ chức?
- Hãy liệt kê 3 – 5 tính từ miêu tả về những người sáng lập tổ chức?
- Chúng ta sẽ chọn những tính từ nào trong các tính từ trên?
- ĐỊnh nghĩa các từ khóa theo hành vi?

Khi có những từ khóa rồi, mọi thứ trong Bản thiết kế Văn hóa doanh nghiệp sẽ được vẽ để phù hợp.
Quay lại với anh bạn CEO ở tình huống đầu bài. Anh muốn có một văn hóa là CHUYÊN NGHIỆP. Nhưng khi tôi hỏi 2 câu hỏi trên thì không thấy anh có từ khóa nào tương tự. Vậy là điều anh muốn và điều anh có đang không trùng nhau. Đồng nghĩa với việc để tạo ra văn hóa chuyên nghiệp sẽ rất khó khăn. Hoàng nói: “Đây là tướng sinh tâm”. Ý tôi hiểu: cứ tạo ra nét hung dữ thì dần dần tâm cũng hung dữ. Hay có một cách nói khác: “Thói quen sẽ tạo tính cách”.

2. Triết lý tổ chức
Có được từ khóa (tính cách) tổ chức, việc tiếp theo là tạo ra Nhân phẩm. Nhân phẩm hay còn gọi là bộ Gen. Tôi thì gọi Nhân phẩm là Triết lý tổ chức – những điều không bao giờ được phép xâm phạm, thay đổi. Tổ chức anh chị có những điều mà chúng ta tuyên thệ hàng ngày, hàng tuần?

Có được 2 nét vẽ này: Tính cách và Triết lý của tổ chức, Bản thiết kế Văn hóa doanh nghiệp đã bắt đầu hình thành. Người họa sỹ - CEO – của doanh nghiệp sẽ tiếp tục phác thảo các nét chi tiết:
5. Hệ thống Quản trị
4. Chiến lược, phong cách lãnh đạo, quan điểm quản trị
3. Sứ mệnh, tầm nhìn, hoài bão, giá trị cạnh tranh lõi

Những phác thảo trong bản thiết kế khi được thi công, dần dần, tổ chức sẽ có những biểu hiện văn hóa thông qua cơ sở vật chất và hành vi của nhân viên. Về lâu dài, văn hóa tổ chức sẽ dẫn dắt và thu hút những khách hàng phù hợp để tạo ra văn hóa Khách hàng của doanh nghiệp.

Anh bạn CEO của tôi khi chia tay bảo rằng: “Mô hình văn hóa KC ổn. Em sẽ về dùng nó để vẽ ra Bản thiết kế cho công ty mình”. Nếu anh bạn tôi khen, tôi tin nó hữu ích với anh chị em CEO. Rất hi vọng cả nhà sẽ tham khảo.

Nguyễn Hùng Cường | Kinhcan24
HRM Blogger / HRM Consultant / KM for HrShare Community at Blognhansu.net.vn
#quantrinhansu #blognhansu #nhansu #CEOvaQTNS